Quyển Tám
Kinhquyen tamGhi chú: (1) Việt văn giữ nguyên theo ebook nguồn kể cả lỗi chính tả gốc; chỉ chuẩn hoá glyph font cũ. (2) Quyển 8 gồm ba tiệm-thứ, 57 thánh-vị (càn-tuệ, thập tín/trụ/hạnh/hồi-hướng, tứ gia-hạnh, thập địa, đẳng-giác, diệu-giác), tên kinh, rồi mở phần bảy loài: nội-phận ngoại-phận, mười tập-nhân sáu giao-báo, các dư-báo, mười giống tiên và sáu cõi trời Dục-giới. (3) Ebook nguồn THIẾU câu kết "thị danh địa-ngục thập nhân lục quả, giai thị chúng sinh mê vọng sở tạo" — khối này giữ Hán và đánh dấu ở tầng VIỆT. (4) Toàn bộ Hán văn các khối ghép lại đã kiểm chứng khớp 100% từng chữ với nguyên bản CBETA quyển 8.
QUYỂN TÁM
ĐOẠN IV - KẾT-LUẬN VỀ BẢN-NHÂN CỦA ĐIÊN-ĐẢO ĐỂ KHỞI-MỐI CHO Ý-NGHĨA TIỆM-THỨ TU-TẬP
大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經卷第八唐天竺沙門般剌蜜帝譯
Đại Phật đỉnh Như-lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ-tát vạn hạnh Thủ-lăng-nghiêm kinh quyển đệ bát Đường Thiên-trúc sa môn Bát-lạt-mật-đế dịch
(Đề quyển — bản dịch không lặp lại đề-mục ở đầu quyển)
「阿難!如是眾生一一類中,亦各各具十二顛倒。猶如揑目,亂花發生。顛倒妙圓真淨明心,具足如斯虛妄亂想。汝今修證佛三摩提,於是本因元所亂想,立三漸次方得除滅。如淨器中除去毒蜜,以諸湯水并雜灰香洗滌其器,後貯甘露。
“A-nan! Như thị chúng sinh nhất nhất loại trung, diệc các các cụ thập nhị điên đảo. Do như niết mục, loạn hoa phát sinh. Điên đảo diệu viên chân tịnh minh tâm, cụ túc như tư hư vọng loạn tưởng. Nhữ kim tu chứng Phật tam-ma-đề, ư thị bản nhân nguyên sở loạn tưởng, lập tam tiệm thứ phương đắc trừ diệt. Như tịnh khí trung trừ khứ độc mật, dĩ chư thang thủy tinh tạp hôi hương tẩy địch kỳ khí, hậu trữ cam lộ.
"A-nan, như thế, chúng-sinh trong mỗi mỗi loài, cũng đều đủ hết 12 thứ điên-đảo. Cũng như dụi con mắt, thì hoa-đốm đủ thứ phát-sinh ra, chân-tâm diệu-viên trong-sạch sáng-suốt mà điên-đảo, thì đầy-đủ những tư-tưởng càn-loạn giả-dối như vậy. Nay, ông tu-chứng Tam-ma-đề của Phật, thì đối với những tư-tưởng càn-loạn, làm nguyên-nhân cỗi-gốc của các điên-đảo, nên lập ra ba tiệm-thứ mới trừ-diệt được, cũng như, trong khí-mãnh trong-sạch, trừ-bỏ mật-độc, dùng nước nóng và các thứ chất tro, chất thơm rửa-sạch khí-mãnh rồi, về sau, mới đựng nước cam-lộ.
ĐOẠN V - KHAI-THỊ BA TIỆM-THỨ
云何名為三種漸次?一者、修習除其助因。二者、真修刳其正性。三者、增進違其現業。
Vân hà danh vi tam chủng tiệm thứ? Nhất giả, tu tập trừ kỳ trợ nhân. Nhị giả, chân tu khô kỳ chính tính. Tam giả, tăng tiến vi kỳ hiện nghiệp.
"Thế nào gọi là ba tiệm-thứ? Một là tu-tập, trừ các trợ-nhân; hai là chân-tu, nạo-sạch chính-tính; ba là tăng-tiến, trái lại hiện-nghiệp.
「云何助因?阿難!如是世界十二類生,不能自全,依四食住,所謂段食、觸食、思食、識食;是故佛說『一切眾生皆依食住』。阿難!一切眾生,食甘故生,食毒故死。是諸眾生求三摩提,當斷世間五種辛菜。是五種辛,熟食發婬,生啖增恚。如是世界食辛之人,縱能宣說十二部經,十方天仙嫌其臭穢,咸皆遠離。諸餓鬼等,因彼食次,舐其唇吻。常與鬼住,福德日銷,長無利益。是食辛人修三摩地,菩薩、天仙、十方善神不來守護。大力魔王得其方便,現作佛身來為說法,非毀禁戒,讚婬、怒、癡,命終自為魔王眷屬。受魔福盡,墮無間獄。阿難!修菩提者永斷五辛,是則名為第一增進修行漸次。「云何正性?阿難!如是眾生入三摩地,要先嚴持清淨戒律,永斷婬心,不飡酒肉,以火淨食,無啖生氣。阿難!是修行人,若不斷婬及與殺生出三界者,無有是處。當觀婬欲猶如毒蛇,如見怨賊。先持聲聞四棄、八棄,執身不動。後行菩薩清淨律儀,執心不起。禁戒成就,則於世間永無相生相殺之業。偷劫不行,無相負累,亦於世間不還宿債。是清淨人修三摩地,父母肉身不須天眼,自然觀見十方世界,覩佛聞法,親奉聖旨,得大神通,遊十方界,宿命清淨,得無艱嶮。是則名為第二增進修行漸次。
“Vân hà trợ nhân? A-nan! Như thị thế giới thập nhị loại sinh, bất năng tự toàn, y tứ thực trụ, sở vị đoạn thực, xúc thực, tư thực, thức thực; thị cố Phật thuyết ‘nhất thiết chúng sinh giai y thực trụ’. A-nan! Nhất thiết chúng sinh, thực cam cố sinh, thực độc cố tử. Thị chư chúng sinh cầu tam-ma-đề, đương đoạn thế gian ngũ chủng tân thái. Thị ngũ chủng tân, thục thực phát dâm, sinh đạm tăng huệ. Như thị thế giới thực tân chi nhân, túng năng tuyên thuyết thập nhị bộ kinh, thập phương thiên tiên hiềm kỳ xú uế, hàm giai viễn ly. Chư ngạ quỷ đẳng, nhân bỉ thực thứ, thỉ kỳ thần vẫn. Thường dữ quỷ trụ, phúc đức nhật tiêu, trưởng vô lợi ích. Thị thực tân nhân tu tam-ma địa, Bồ-tát, thiên tiên, thập phương thiện thần bất lai thủ hộ. Đại lực ma vương đắc kỳ phương tiện, hiện tác Phật thân lai vi thuyết pháp, phi hủy cấm giới, tán dâm, nộ, si, mệnh chung tự vi ma vương quyến thuộc. Thọ ma phúc tận, đọa vô gian ngục. A-nan! Tu Bồ-đề giả vĩnh đoạn ngũ tân, thị tắc danh vi đệ nhất tăng tiến tu hành tiệm thứ. “Vân hà chính tính? A-nan! Như thị chúng sinh nhập tam-ma địa, yếu tiên nghiêm trì thanh tịnh giới luật, vĩnh đoạn dâm tâm, bất xan tửu nhục, dĩ hỏa tịnh thực, vô đạm sinh khí. A-nan! Thị tu hành nhân, nhược bất đoạn dâm cập dữ sát sinh xuất tam giới giả, vô hữu thị xứ. Đương quán dâm dục do như độc xà, như kiến oán tặc. Tiên trì thanh văn tứ khí, bát khí, chấp thân bất động. Hậu hành Bồ-tát thanh tịnh luật nghi, chấp tâm bất khởi. Cấm giới thành tựu, tắc ư thế gian vĩnh vô tướng sinh tướng sát chi nghiệp. Thâu kiếp bất hành, vô tướng phụ lụy, diệc ư thế gian bất hoàn túc trái. Thị thanh tịnh nhân tu tam-ma địa, phụ mẫu nhục thân bất tu thiên nhãn, tự nhiên quán kiến thập phương thế giới, đổ Phật văn pháp, thân phụng thánh chỉ, đắc đại thần thông, du thập phương giới, túc mệnh thanh tịnh, đắc vô gian hiểm. Thị tắc danh vi đệ nhị tăng tiến tu hành tiệm thứ.
Thế nào là trợ-nhân? A-nan, 12 loài chúng-sinh đó trong thế-giới, không thể tự-toàn, phải nương theo bốn cách ăn mà an-trụ, nghĩa là, nương theo đoạn-thực, xúc-thực, tư-thực và thức-thực; vậy nên Phật bảo tất-cả chúng-sinh, đều nương với cái ăn mà an-trụ. A-nan, tất-cả chúng-sinh, ăn thức lành thì sống, ăn thức độc thì chết; vậy, các chúng-sinh, cầu Tam-ma-đề, nên dứt-bỏ năm thứ rau-cay trong thế-gian. Năm thứ rau-cay nầy, ăn chín, thì phát lòng-dâm, ăn sống, thì thêm lòng-giận. Những người ăn rau-cay đó, trên thế-giới, dù biết giảng nói 12 bộ kinh, thiên-tiên 10 phương, hiềm vì nó hôi-nhớp, đều tránh xa cả; các loài ngạ-quỷ, vân vân... nhân trong lúc người kia ăn rau-cay, liếm môi-mép của người đó; người ấy thường ở với quỷ một chổ, phúc-đức ngày càng tiêu, hằng-lâu không được lợi-ích. Người ăn rau-cay đó, tu phép Tam-ma-đề, Bồ-tát, Thiên-tiên, Thiện-thần thập phương không đến giữ-gìn ủng-hộ; Đại-lực Ma-vương được phương-tiện đó, hiện ra thân Phật, đến thuyết-pháp cho người kia, chê-phá cấm-giới, tán-thán dâm-dục, nóng-giận, si-mê; đến khi mệnh-chung, tự mình người ấy làm quyến-thuộc của Ma-vương; khi hưởng-thụ phúc ma hết rồi, thì đọa vào ngục Vô-gián. A-nan, người tu đạo Bồ-đề, phải đoạn-hẳn năm thứ rau-cay; ấy gọi là tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ nhất. Thế nào là chính-tính? A-nan, chúng-sinh như vậy vào Tam-ma-đề, cốt-yếu trước hết, phải nghiêm-chỉnh giữ giới thanh-tịnh, đoạn-hẳn lòng dâm, không dùng rượu thịt, chỉ ăn đồ-ăn trong-sạch nấu chín, không ăn đồ sống. A-nan, người tu-hành đó, nếu không đoạn dâm-dục và sát-sinh, mà ra khỏi được ba cõi, thì thật không có lẽ như vậy. Nên xem sự dâm-dục như là rắn-độc, như thấy giặc-thù. Trước hết, phải giữ tứ-khí, bát-khí của giới-luật Thanh-văn, nắm-giữ cái thân không lay-động; về sau, hành-trì luật-nghi thanh-tịnh Bồ-tát, nắm-giữ cái tâm không móng lên. Cấm-giới đã thành-tựu, thì ở trong thế-gian, hẳn không còn những nghiệp sinh nhau, giết nhau; đã không làm việc trộm-cướp, thì không còn mắc nợ nhau và cũng khỏi phải trả các nợ kiếp trước trong thế-gian. Con người thanh-tịnh ấy, tu phép Tam-ma-đề, chính nơi nhục-thân cha mẹ sinh ra, không cần thiên-nhãn, tự-nhiên thấy được thập phương thế-giới, thấy Phật nghe Pháp, chính mình vâng-lĩnh thánh-chỉ của Phật, được phép đại-thần-thông, đi khắp thập phương thế-giới; túc-mạng được thanh-tịnh, không còn những điều khó-khăn nguy-hiểm; ấy gọi là tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ hai.
「云何現業?阿難!如是清淨持禁戒人,心無貪婬,於外六塵不多流逸,因不流逸旋元自歸。塵既不緣,根無所偶,反流全一,六用不行,十方國土皎然清淨。譬如琉璃,內懸明月,身心快然,妙圓平等,獲大安隱。一切如來密圓淨妙皆現其中,是人即獲無生法忍。從是漸修,隨所發行,安立聖位。是則名為第三增進修行漸次。
“Vân hà hiện nghiệp? A-nan! Như thị thanh tịnh trì cấm giới nhân, tâm vô tham dâm, ư ngoại lục trần bất đa lưu dật, nhân bất lưu dật toàn nguyên tự quy. Trần ký bất duyên, căn vô sở ngẫu, phản lưu toàn nhất, lục dụng bất hành, thập phương quốc độ kiểu nhiên thanh tịnh. Thí như lưu ly, nội huyền minh nguyệt, thân tâm khoái nhiên, diệu viên bình đẳng, hoạch đại an ẩn. Nhất thiết Như-lai mật viên tịnh diệu giai hiện kỳ trung, thị nhân tức hoạch vô sinh pháp nhẫn. Tùng thị tiệm tu, tùy sở phát hành, an lập thánh vị. Thị tắc danh vi đệ tam tăng tiến tu hành tiệm thứ.
Thế nào là hiện-nghiệp? A-nan, người giữ-gìn cấm-giới thanh-tịnh như vậy, tâm không tham-dâm, không hay giong-ruổi theo lục-trần ở ngoài; nhân không giong-ruổi, tự xoay lại về tính bản-nguyên; trần đã không duyên, thì căn không ngẫu-hợp với đâu nữa; trở-ngược dòng về chỗ toàn-nhất, sáu cái dụng không hiện-hành, cõi-nước mười phương sáng-suốt thanh-tịnh, ví-như ngọc lưu-ly, có mặt trăng sáng treo ở trong ấy. Thân tâm khoan-khoái, tính diệu-viên bình-đẳng, được đại-an-ẩn, tất-cả mật-viên tịnh-diệu các đức Như-lai đều hiện trong đó; người ấy liền được Vô-sinh-pháp-nhẫn. Từ đó, lần-lượt tu-tập, tùy cái hạnh phát ra mà an-tập các thánh-vị, đó gọi là tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ ba.
ĐOẠN VI - AN-LẬP CÁC THÁNH-VỊ
Chi I. - Càn-tuệ-địa.
「阿難!是善男子,欲愛乾枯,根境不偶,現前殘質不復續生。執心虛明,純是智慧。慧性明圓,瑩十方界。乾有其慧,名乾慧地。
“A-nan! Thị thiện nam tử, dục ái can khô, căn cảnh bất ngẫu, hiện tiền tàn chất bất phục tục sinh. Chấp tâm hư minh, thuần thị trí tuệ. Tuệ tính minh viên, oánh thập phương giới. Can hữu kỳ tuệ, danh can tuệ địa.
"A-nan, thiện-nam tử ấy, lòng dục-ái khô-cạn, căn và cảnh không ngẫu-hợp, thân-tàn hiện-tiền, không còn tiếp-tục sinh nữa, nắm cái tâm rỗng-sáng, thuần là trí-tuệ; tính trí-tuệ sáng-suốt cùng khắp, soi-thấu thập-phương thế-giới; chỉ có cái tuệ khô-khan ấy, nên gọi là Càn-tuệ-địa, tập-khí ngũ-dục mới khô-cạn, chưa tiếp-giáp với dòng nước Pháp của các đức Như-lai.
Chi 2. - Thập-tín.
「欲習初乾,未與如來法流水接。即以此心中中流入,圓妙開敷。從真妙圓,重發真妙,妙信常住。一切妄想滅盡無餘,中道純真,名信心住。
“Dục tập sơ can, vị dữ Như-lai pháp lưu thủy tiếp. Tức dĩ thử tâm trung trung lưu nhập, viên diệu khai phu. Tùng chân diệu viên, trọng phát chân diệu, diệu tín thường trụ. Nhất thiết vọng tưởng diệt tận vô dư, trung đạo thuần chân, danh tín tâm trụ.
Tức lấy cái tâm ấy, chính giữa chính giữa lần vào, tính viên-diệu mở-mang, từ chỗ chân-diệu-viên lại phát ra chân-diệu. Tính diệu-tín thường-trụ, tất-cả vọng-tưởng diệt hết không còn, trung-đạo được thuần-chân, gọi là Tín-tâm-trụ.
真信明了一切圓通,陰、處、界三不能為礙。如是乃至過去、未來無數劫中,捨身、受身一切習氣,皆現在前。是善男子皆能憶念,得無遺忘,名念心住。
Chân tín minh liễu nhất thiết viên thông, âm, xứ, giới tam bất năng vi ngại. Như thị nãi chí quá khứ, vị lai vô số kiếp trung, xả thân, thọ thân nhất thiết tập khí, giai hiện tại tiền. Thị thiện nam tử giai năng ức niệm, đắc vô di vong, danh niệm tâm trụ.
Chân-tín tỏ-rõ, tất-cả đều viên-thông, ba thứ ấm, giới, nhập không thể làm ngăn-ngại; như thế, cho đến trong vô-số kiếp quá-khứ, vị-lai, tất-cả tập-khí xả-thân, thụ-thân đều hiện ra trước mặt, thiện-nam-tử ấy đều có thể nhớ-nghĩ được, không quên mất gì; gọi là Niệm-tâm-trụ.
妙圓純真,真精發化,無始習氣通一精明,唯以精明進趣真淨,名精進心。
Diệu viên thuần chân, chân tinh phát hóa, vô thủy tập khí thông nhất tinh minh, duy dĩ tinh minh tiến thú chân tịnh, danh tinh tiến tâm.
Tính diệu-viên thuần-chân, chân-tinh phát-hóa ra, các tập-khí vô-thủy đều thông vào một tính tinh-minh, chỉ dùng tinh-minh ấy, tiến đến chỗ chân-tịnh; gọi là Tinh-tiến-tâm.
心精現前,純以智慧,名慧心住。
Tâm tinh hiện tiền, thuần dĩ trí tuệ, danh tuệ tâm trụ.
Tâm-tinh hiện-tiền, thuần-dùng trí-tuệ; gọi là Tuệ-tâm-trụ.
執持智明,周遍寂湛,寂妙常凝,名定心住。
Chấp trì trí minh, chu biến tịch trạm, tịch diệu thường ngưng, danh định tâm trụ.
Nắm-giữ trí-tuệ sáng-suốt, lặng-đứng cùng khắp, tính tịch-diệu thường đứng-lại; gọi là Định-tâm-trụ.
定光發明,明性深入,唯進無退,名不退心。
Định quang phát minh, minh tính thâm nhập, duy tiến vô thoái, danh bất thoái tâm.
Định-quang phát-minh, đi sâu vào tính sáng-suốt, chỉ có tới, chứ không lui; gọi là Bất-thối-tâm.
心進安然,保持不失,十方如來氣分交接,名護法心。
Tâm tiến an nhiên, bảo trì bất thất, thập phương Như-lai khí phân giao tiếp, danh hộ pháp tâm.
Tâm an-nhiên đi tới, giữ-gìn không mất, giao-tiếp với khí-phần thập-phương Như-lai; gọi là Hộ-pháp-tâm.
覺明保持,能以妙力迴佛慈光,向佛安住。猶如雙鏡光明相對,其中妙影重重相入,名迴向心。
Giác minh bảo trì, năng dĩ diệu lực hồi Phật từ quang, hướng Phật an trụ. Do như song kính quang minh tướng đối, kỳ trung diệu ảnh trọng trọng tướng nhập, danh hồi hướng tâm.
Giữ-gìn tính giác-minh, có thể dùng diệu-lực xoay từ-quang của Phật về nơi mình và hướng về Phật mà an-trụ, cũng như hai gương sáng đối nhau, trong đó các bóng nhiệm-mầu lớp-lớp lồng nhau; gọi là Hồi-hướng-tâm.
心光密迴,獲佛常凝無上妙淨,安住無為得無遺失,名戒心住。
Tâm quang mật hồi, hoạch Phật thường ngưng vô thượng diệu tịnh, an trụ vô vi đắc vô di thất, danh giới tâm trụ.
Tự-tâm thầm xoay Phật-quang trở về, được vô-thượng diệu-tịnh thường-trụ của Phật, an-trụ nơi vô-vi, được không bỏ mất; gọi là Giới-tâm-trụ.
住戒自在,能遊十方,所去隨願,名願心住。
Trụ giới tự tại, năng du thập phương, sở khứ tùy nguyện, danh nguyện tâm trụ.
Tự-tại an-trụ nơi giới, có thể đi khắp mười phương, tùy nguyện mà đi; gọi là Nguyện-tâm-trụ.
Chi 3. - Thập-trụ
「阿難!是善男子,以真方便發此十心。心精發揮,十用涉入,圓成一心,名發心住。心中發明,如淨瑠璃內現精金,以前妙心履以成地,名治地住。
“A-nan! Thị thiện nam tử, dĩ chân phương tiện phát thử thập tâm. Tâm tinh phát huy, thập dụng thiệp nhập, viên thành nhất tâm, danh phát tâm trụ. Tâm trung phát minh, như tịnh lưu-ly nội hiện tinh kim, dĩ tiền diệu tâm lý dĩ thành địa, danh trị địa trụ.
A-nan, thiện-nam-tử đó, dùng phương-tiện chân-chính phát được mười cái tâm ấy, tâm-tinh đã phát-huy, mười cái dụng ấy xen-lẫn với nhau, viên-thành một tâm; gọi là Phát-tâm-trụ. Trong tâm phát ra sáng-suốt, như ngọc lưu-ly trong-sạch, ở trong hiện ra vàng-ròng; dùng cái diệu-tâm trước kia, sửa-sang thành chỗ nương-đứng; gọi là Trị-địa-trụ.
心地涉知,俱得明了,遊履十方得無留礙,名修行住。
Tâm địa thiệp tri, câu đắc minh liễu, du lý thập phương đắc vô lưu ngại, danh tu hành trụ.
Tâm-địa biết khắp, đều được rõ-ràng, đi cùng mười phương, được không ngăn-ngại; gọi là Tu-hành-trụ.
行與佛同,受佛氣分,如中陰身自求父母,陰信冥通入如來種,名生貴住。
Hành dữ Phật đồng, thọ Phật khí phân, như trung âm thân tự cầu phụ mẫu, âm tín minh thông nhập Như-lai chủng, danh sinh quý trụ.
Hạnh đồng với Phật, nhận khí-phần của Phật như thân trung-ấm tự cầu cha mẹ, âm-tín thầm-thông vào giống Như-lai; gọi là Sinh-quý-trụ.
既遊道胎,親奉覺胤,如胎已成人相不缺,名方便具足住。
Ký du đạo thai, thân phụng giác dận, như thai dĩ thành nhân tướng bất khuyết, danh phương tiện cụ túc trụ.
Đã vào đạo-thai, chính mình nhờ được sự nuối-nấng của tính-giác, như cái thai đã thành, tướng người không thiếu; gọi là Phương-tiện-cụ-túc-trụ.
容貌如佛,心相亦同,名正心住。
Dung mạo như Phật, tâm tướng diệc đồng, danh chính tâm trụ.
Hình-dáng như Phật, tâm-tướng cũng vậy; gọi là Chính-tâm-trụ.
身心合成,日益增長,名不退住。
Thân tâm hợp thành, nhật ích tăng trưởng, danh bất thoái trụ.
Thân tâm hợp-thành, ngày càng tăng-trưởng; gọi là Bất-thối-trụ.
十身靈相一時具足,名童真住。
Thập thân linh tướng nhất thời cụ túc, danh đồng chân trụ.
Linh-tướng mười thân, một thời đầy-đủ; gọi là Đồng-chân-trụ.
形成出胎,親為佛子,名法王子住。
Hình thành xuất thai, thân vi Phật tử, danh pháp vương tử trụ.
Hình đã thành, ra khỏi thai, chính mình làm Phật-tử; gọi là Pháp-vương-tử-trụ.
表以成人,如國大王以諸國事分委太子。彼剎利王世子長成,陳列灌頂,名灌頂住。
Biểu dĩ thành nhân, như quốc đại vương dĩ chư quốc sự phân ủy thái tử. Bỉ sát-lợi vương thế tử trưởng thành, trần liệt quán đỉnh, danh quán đỉnh trụ.
Nghi-biểu đã thành người lớn, như khi một quốc-vương, phân-công ủy-nhiệm cho thái-tử các việc nước, thì quốc-vương kia, lúc thái-tử trưởng-thành, bày ra lễ quán-đỉnh; gọi là Quán-đỉnh-trụ.
Chi 4. - Thập-hạnh
「阿難!是善男子,成佛子已,具足無量如來妙德。十方隨順,名歡喜行。
“A-nan! Thị thiện nam tử, thành Phật tử dĩ, cụ túc vô lượng Như-lai diệu đức. Thập phương tùy thuận, danh hoan hỷ hành.
A-nan, thiện-nam-tử đã thành Phật-tử rồi, đầy-đủ diệu-đức vô-lượng của Như-lai và tùy-thuận mười phương; gọi là Hoan-hỉ-hạnh.
善能利益一切眾生,名饒益行。
Thiện năng lợi ích nhất thiết chúng sinh, danh nhiêu ích hành.
Khéo biết làm lợi-ích cho tất-cả chúng-sinh; gọi là Nhiêu-ích-hạnh.
自覺覺他得無違拒,名無嗔恨行。
Tự giác giác tha đắc vô vi cự, danh vô sân hận hành.
Tự-giác và giác-tha, được không chống trái; gọi là Vô-sân-hận-hạnh.
種類出生窮未來際,三世平等、十方通達,名無盡行。
Chủng loại xuất sinh cùng vị lai tế, tam thế bình đẳng, thập phương thông đạt, danh vô tận hành.
Theo các chủng-loại mà hiện ra sắc-thân cùng-tột vị-lai, ba đời đều bình-đẳng, mười phương được thông-suốt; gọi là Vô-hận-hạnh.
一切合同,種種法門得無差誤,名離癡亂行。則於同中顯現群異,一一異相各各見同,名善現行。
Nhất thiết hợp đồng, chủng chủng pháp môn đắc vô sai ngộ, danh ly si loạn hành. Tắc ư đồng trung hiển hiện quần dị, nhất nhất dị tướng các các kiến đồng, danh thiện hiện hành.
Tất-cả đều hợp về đồng, nơi các thứ pháp-môn, được không sai-lầm; gọi là Ly-si-loạn-hạnh. Rồi ở trong đồng, hiện ra các cái khác, nơi mỗi mỗi tướng khác, mỗi mỗi đều thấy là đồng; gọi là Thiện-hiện-hạnh.
如是乃至十方虛空滿足微塵,一一塵中現十方界;現塵、現界不相留礙,名無著行。
Như thị nãi chí thập phương hư không mãn túc vi trần, nhất nhất trần trung hiện thập phương giới; hiện trần, hiện giới bất tướng lưu ngại, danh vô trước hành.
Như vậy, cho đến mười phương hư-không, đầy khắp vi-trần và trong mỗi mỗi vi-trẩn hiện ra thập phương thế-giới; hiện vi-trần, hiện thế-giới, không ngăn-ngại nhau; gọi là Vô-trước-hạnh.
種種現前,咸是第一波羅蜜多,名尊重行。
Chủng chủng hiện tiền, hàm thị đệ nhất ba-la-mật-đa, danh tôn trọng hành.
Các thứ hiện-tiền, đều là Đệ-nhất-ba-la-mật-đa; gọi là Tôn-trọng-hạnh.
如是圓融,能成十方諸佛軌則,名善法行。
Như thị viên dung, năng thành thập phương chư Phật quỹ tắc, danh thiện pháp hành.
Viên-dung như vậy, có thể thành-tựu quy-tắc của chư Phật mười phương; gọi là Thiện-pháp-hạnh.
一一皆是清淨無漏,一真無為,性本然故,名真實行。
Nhất nhất giai thị thanh tịnh vô lậu, nhất chân vô vi, tính bản nhiên cố, danh chân thực hành.
Mỗi mỗi đều là Nhất-chân-vô-vi Thanh-tịnh-vô-lậu, vì tính bản-nhiên là như vậy; gọi là Chân-thật-hạnh.
Chi 5. - Thập-hồi-hướng
「阿難!是善男子,滿足神通、成佛事已,純潔精真,遠諸留患,當度眾生、滅除度相,迴無為心向涅槃路,名救護一切眾生離眾生相迴向。
“A-nan! Thị thiện nam tử, mãn túc thần thông, thành Phật sự dĩ, thuần khiết tinh chân, viễn chư lưu hoạn, đương độ chúng sinh, diệt trừ độ tướng, hồi vô vi tâm hướng Niết-bàn lộ, danh cứu hộ nhất thiết chúng sinh ly chúng sinh tướng hồi hướng.
A-nan, thiện-nam-tử đó đầy-đủ thần-thông, thành-tựu Phật-sự rồi, toàn là một tinh-chân thuần-khiết, xa các lỗi-lầm, chính khi hóa-độ chúng-sinh mà diệt tướng năng-độ, sở-độ, xoay tâm vô-vi hướng về đường Niết-bàn; gọi là Cứu-hộ nhất-thiết chúng-sinh, Ly-chúng-sinh-tướng hồi-hướng.
壞其可壞,遠離諸離,名不壞迴向。
Hoại kỳ khả hoại, viễn ly chư ly, danh bất hoại hồi hướng.
Diệt-hoại tất-cả cái gì có thể diệt-hoại, viễn-ly các sự ly; gọi là Bất-hoại hồi-hướng.
本覺湛然,覺齊佛覺,名等一切佛迴向。
Bản giác trạm nhiên, giác tề Phật giác, danh đẳng nhất thiết Phật hồi hướng.
Tính bản-giác đứng-lặng, giác-ngộ bằng Phật; gọi là Đẳng-nhất-thiết-Phật hồi-hướng.
精真發明,地如佛地,名至一切處迴向。
Tinh chân phát minh, địa như Phật địa, danh chí nhất thiết xứ hồi hướng.
Tinh-chân phát ra sáng-suốt, tâm-địa như Phật-địa, gọi là Chí-nhất-thiết-xứ hồi-hướng.
世界如來互相涉入,得無罣礙,名無盡功德藏迴向。
Thế giới Như-lai hỗ tướng thiệp nhập, đắc vô quái ngại, danh vô tận công đức tàng hồi hướng.
Thế-giới và Như-lai, dung-hợp vào nhau, được không ngăn-ngại; gọi là Vô-tận-công-đức-tạng hồi-hướng.
於同佛地,地中各各生清淨因,依因發揮取涅槃道,名隨順平等善根迴向。
Ư đồng Phật địa, địa trung các các sinh thanh tịnh nhân, y nhân phát huy thủ Niết-bàn đạo, danh tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng.
Nơi đồng với Phật-địa, trong ấy phát-sinh ra các nhân thanh-tịnh, nương nhân ấy mà phát-huy, đi đến đạo Niết-bàn; gọi là Tùy-thuận-bình-đẳng-thiện-căn hồi-hướng.
真根既成,十方眾生皆我本性,性圓成就不失眾生,名隨順等觀一切眾生迴向。即一切法離一切相,唯即與離二無所著,名真如相迴向。
Chân căn ký thành, thập phương chúng sinh giai ngã bản tính, tính viên thành tựu bất thất chúng sinh, danh tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh hồi hướng. Tức nhất thiết pháp ly nhất thiết tướng, duy tức dữ ly nhị vô sở trước, danh chân như tướng hồi hướng.
Chân-căn đã thành-tựu, thập phương chúng-sinh đều là bản-tính của mình, bản-tính viên-mãn thành-tựu, không bỏ mất chúng-sinh; gọi là Tùy-thuận-đẳng-quán-nhất-thiết chúng-sinh hồi-hướng. Tức tất-cả pháp, ly tất-cả tướng, cả tức và ly, hai cái đều không dính; gọi là Chân-như-tướng hồi-hướng.
真得所如,十方無礙,名無縛解脫迴向。
Chân đắc sở như, thập phương vô ngại, danh vô phược giải thoát hồi hướng.
Thật được như-như, mười phương không ngăn-ngại; gọi là Vô-phược-giải-thoát hồi-hướng.
性德圓成,法界量滅,名法界無量迴向。
Tính đức viên thành, pháp giới lượng diệt, danh pháp giới vô lượng hồi hướng.
Tính-đức viên-mãn thành-tựu, lượng của pháp-giới diệt; gọi là Pháp-giới-vô-lượng hồi-hướng.
Chi 6. - Tứ-gia-hạnh.
「阿難!是善男子,盡是清淨四十一心,次成四種妙圓加行。
“A-nan! Thị thiện nam tử, tận thị thanh tịnh tứ thập nhất tâm, thứ thành tứ chủng diệu viên gia hành.
A-nan, thiện-nam-tử đó, tu hết 41 tâm thanh-tịnh ấy rồi, thì lại thành-tựu bốn thứ gia-hạnh diệu-viên:
即以佛覺用為己心,若出未出,猶如鑽火欲然其木,名為煖地。
Tức dĩ Phật giác dụng vi kỷ tâm, nhược xuất vị xuất, do như toản hỏa dục nhiên kỳ mộc, danh vi noãn địa.
Tức lấy Phật-giác, dùng làm tâm mình, như ra nhưng chưa ra, ví-như dùi cây để cho ra lửa mà đốt cái cây; gọi là Noãn-địa.
又以己心成佛所履,若依非依,如登高山,身入虛空,下有微礙,名為頂地。
Hựu dĩ kỷ tâm thành Phật sở lý, nhược y phi y, như đăng cao sơn, thân nhập hư không, hạ hữu vi ngại, danh vi đỉnh địa.
Lại lấy tâm mình, thành chỗ đứng của Phật, hình-như nương, nhưng không phải nương, ví-như người lên chóp núi cao, thân đã vào hư-không, nhưng ở dưới còn chút ngăn-ngại; gọi là Đỉnh-địa.
心佛二同,善得中道,如忍事人非懷非出,名為忍地。
Tâm Phật nhị đồng, thiện đắc trung đạo, như nhẫn sự nhân phi hoài phi xuất, danh vi nhẫn địa.
Tâm và Phật là đồng, khéo được trung-đạo, ví-như người biết nhịn, không phải ôm vào, nhưng cũng không phải phát ra; gọi là Nhẫn-địa.
數量銷滅,迷覺中道二無所目,名世第一地。
Số lượng tiêu diệt, mê giác trung đạo nhị vô sở mục, danh thế đệ nhất địa.
Số-lượng đều tiêu-diệt, mê, giác và trung-đạo, cả hai đều không có gì; gọi là Thế-đệ-nhất-địa.
Chi 7. - Thập-địa
「阿難!是善男子,於大菩提善得通達,覺通如來盡佛境界,名歡喜地。
“A-nan! Thị thiện nam tử, ư đại Bồ-đề thiện đắc thông đạt, giác thông Như-lai tận Phật cảnh giới, danh hoan hỷ địa.
A-nan, thiện-nam-tử đó thông-suốt đúng-đắn đạo Đại-bồ-đề, chỗ giác-ngộ thông với Như-lai, cùng-tột cảnh-giới của Phật; gọi là Hoan-hỉ-địa.
異性入同,同性亦滅,名離垢地。
Dị tính nhập đồng, đồng tính diệc diệt, danh ly cấu địa.
Tính khác nhập với đồng, tính đồng cũng diệt; gọi là Ly-cấu-địa.
淨極明生,名發光地。
Tịnh cực minh sinh, danh phát quang địa.
Thanh-tịnh cùng-tột, sáng-suốt sinh ra; gọi là Phát-quang-địa.
明極覺滿,名焰慧地。
Minh cực giác mãn, danh diễm tuệ địa.
Sáng-suốt tột, giác viên-mãn; gọi là Diệm-tuệ-địa.
一切同異所不能至,名難勝地。
Nhất thiết đồng dị sở bất năng chí, danh nan thắng địa.
Tất-cả cái đồng, cái khác, không thể đến được; gọi là Nan-thắng-địa.
無為真如性淨明露,名現前地。
Vô vi chân như tính tịnh minh lộ, danh hiện tiền địa.
Bản-tính thanh-tịnh vô-vi, chân-như tỏ-lộ; gọi là Hiện-tiền-địa. Tột bờ-bến chân-như; gọi là Viễn-hành-địa.
盡真如際,名遠行地。一真如心,名不動地。
Tận chân như tế, danh viễn hành địa. Nhất chân như tâm, danh bất động địa.
Một tâm chân-như; gọi là Bất-động-địa.
發真如用,名善慧地。
Phát chân như dụng, danh thiện tuệ địa.
Phát cái dụng chân-như; gọi là Thiện-tuệ-địa.
「阿難!是諸菩薩,從此已往修習畢功,功德圓滿。亦目此地名修習位,慈陰妙雲覆涅槃海,名法雲地。
“A-nan! Thị chư Bồ-tát, tùng thử dĩ vãng tu tập tất công, công đức viên mãn. Diệc mục thử địa danh tu tập vị, từ âm diệu vân phúc Niết-bàn hải, danh pháp vân địa.
A-nan, các Bồ-tát đó, từ đây về trước, công-hạnh tu-tập đã xong, công-đức được viên-mãn, cũng gọi địa nầy là Tu-tập-vị; bóng từ, mây diệu, trùm bể Niết-bàn; gọi là Pháp-vân-địa.
Chi 8. - Kết-thúc bằng hai quả-vị Đẳng-giác và Diệu-giác.
「如來逆流,如是菩薩順行而至;覺際入交,名為等覺。
“Như-lai nghịch lưu, như thị Bồ-tát thuận hành nhi chí; giác tế nhập giao, danh vi đẳng giác.
Như-lai ngược dòng trở lại, vị Bồ-tát đó thuận dòng đi tới, giác-ngộ vào chỗ giao-tiếp với nhau; gọi là Đẳng-giác.
「阿難!從乾慧心至等覺已,是覺始獲金剛心中初乾慧地。如是重重單複十二,方盡妙覺,成無上道。
“A-nan! Tùng can tuệ tâm chí đẳng giác dĩ, thị giác thủy hoạch kim cương tâm trung sơ can tuệ địa. Như thị trọng trọng đan phức thập nhị, phương tận diệu giác, thành vô thượng đạo.
A-nan, từ tâm Càn-tuệ đến Đẳng-giác rồi, giác đó mới bắt-đầu được Sơ-càn-tuệ-địa trong tâm Kim-Cương; như vậy lớp-lớp tu đơn, tu kép 12 vị mới cùng tột Diệu-giác, thành đạo Vô-thượng.
「是種種地,皆以金剛觀察如幻十種深喻奢摩他中,用諸如來毘婆舍那清淨修證,漸次深入。
“Thị chủng chủng địa, giai dĩ kim cương quán sát như huyễn thập chủng thâm dụ xa-ma-tha trung, dụng chư Như-lai tỳ-bà-xá-na thanh tịnh tu chứng, tiệm thứ thâm nhập.
Các thứ địa ấy, đều lấy trí Kim-cương quán-sát mười thứ ví-dụ như-huyễn sâu-xa, trong Xa-ma-tha, dùng phép Tỳ-bà-xá-na của các đức Như-lai mà thanh-tịnh tu-chứng, lần-lượt đi sâu vào.
阿難!如是皆以三增進故,善能成就五十五位真菩提路。作是觀者,名為正觀;若他觀者,名為邪觀。」
A-nan! Như thị giai dĩ tam tăng tiến cố, thiện năng thành tựu ngũ thập ngũ vị chân Bồ-đề lộ. Tác thị quán giả, danh vi chính quán; nhược tha quán giả, danh vi tà quán.”
A-nan, như thế, đều dùng ba tiệm-thứ tăng-tiến, nên khéo thành-tựu 55 vị trong đường Bồ-đề chân-thật. Làm cái quán như vậy, gọi là chính-quán; nếu quán cách khác, gọi là tà-quán".
MỤC VII - CHỈ-DẠY TÊN KINH
爾時,文殊師利法王子,在大眾中即從座起,頂禮佛足而白佛言:「當何名是經?我及眾生云何奉持?」
Nhĩ thời, Văn-thù-sư-lợi pháp vương tử, tại đại chúng trung tức tùng tòa khởi, đỉnh lễ Phật túc nhi bạch Phật ngôn: “Đương hà danh thị kinh? Ngã cập chúng sinh vân hà phụng trì?”
Khi bấy giờ, ngài Văn-thù-sư-lỵ Pháp-vương-tử, ở trong đại-chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh-lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: "Nên gọi kinh nầy là gì? Tôi và chúng-sinh phải phụng-trì thế nào?"
佛告文殊師利:「是經名『大佛頂、悉怛多般怛囉無上寶印、十方如來清淨海眼』,亦名『救護親因、度脫阿難及此會中性比丘尼得菩提心入遍知海』,亦名『如來密因修證了義』,亦名『大方廣妙蓮華王十方佛母陀羅尼呪』,亦名『灌頂章句、諸菩薩萬行首楞嚴』,汝當奉持。」
Phật cáo Văn-thù-sư-lợi: “Thị kinh danh ‘đại Phật đỉnh, tất đát đa bát-đát-la vô thượng bảo ấn, thập phương Như-lai thanh tịnh hải nhãn’, diệc danh ‘cứu hộ thân nhân, độ thoát A-nan cập thử hội trung tính tỳ-kheo ni đắc Bồ-đề tâm nhập biến tri hải’, diệc danh ‘Như-lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa’, diệc danh ‘đại phương quảng diệu liên hoa vương thập phương Phật mẫu-đà-la ni chú’, diệc danh ‘quán đỉnh chương cú, chư Bồ-tát vạn hạnh Thủ-lăng-nghiêm’, nhữ đương phụng trì.”
Phật bảo ngài Văn-thù-sư-lỵ: "Kinh nầy tên là "Đại-Phật-đỉnh-tất-đát-đa bát-đát-ra, vô-thượng bảo-ấn, thập phương Như-lai thanh-tịnh hải-nhãn". Cũng gọi tên là "Cứu-hộ thân-nhân, độ-thoát A-nan cập thử Hội-trung Tính-tỷ-khưu-ni, đắc Bồ-đề-tâm, nhập biến-tri-hải". Cũng gọi tên là "Như-lai mật-nhân, tu-chứng-liễu-nghĩa". Cũng gọi tên là "Đại-phương-quảng diệu-liên-hoa-vương, thập phương Phật-mẫu đà-la-ni-chú". Cũng gọi tên là "Quán-đỉnh chương-cú, chư Bồ-tát vạn-hạnh Thủ-lăng-nghiêm". Các ông nên phụng-trì".
MỤC VIII - NGHE PHÁP ĐƯỢC TĂNG-TIẾN
說是語已,即時阿難及諸大眾,得蒙如來開示密印般怛囉義,兼聞此經了義名目,頓悟禪那修進聖位增上妙理;心慮虛凝,斷除三界修心六品微細煩惱。
Thuyết thị ngữ dĩ, tức thời A-nan cập chư đại chúng, đắc mông Như-lai khai thị mật ấn bát-đát-la nghĩa, kiêm văn thử kinh liễu nghĩa danh mục, đốn ngộ thiền-na tu tiến thánh vị tăng thượng diệu lý; tâm lự hư ngưng, đoạn trừ tam giới tu tâm lục phẩm vi tế phiền não.
Phật nói lời ấy rồi, liền khi đó, ông A-nan và cả đại-chúng được nhờ đức Như-lai khai-thị ý-nghĩa mật-ấn Bát-đát-ra, lại nghe được những tên gọi liễu-nghĩa của kinh nầy, liền ngộ được Diệu-lý tăng-thượng để tu-tiến vào các Thánh-vị trong Thiền-na; tâm-niệm rỗng-trống đứng-lặng, ông đoạn-trừ 6 phẩm phiền-não vi-tế trong tư-hoặc tam-giới.
CHƯƠNG IV - PHÂN-BIỆT KỸ-CÀNG CÁC NGHIỆP-QUẢ, PHÂN-TÍCH RẠCH-RÒI VỀ TÀ-MA NGOẠI-ĐẠO MỤC I - HỎI VỀ NHỮNG TẬP-KHÍ VỐN CÓ, SINH-KHỞI RA LỤC-ĐẠO
即從座起,頂禮佛足,合掌恭敬而白佛言:「大威德世尊!慈音無遮,善開眾生微細沈惑,令我今日身心快然,得大饒益。
Tức tùng tòa khởi, đỉnh lễ Phật túc, hợp chưởng cung kính nhi bạch Phật ngôn: “Đại uy đức Thế-tôn! Từ âm vô già, thiện khai chúng sinh vi tế trầm hoặc, lệnh ngã kim nhật thân tâm khoái nhiên, đắc đại nhiêu ích.
Ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh-lễ nơi chân Phật, chấp tay cung-kính mà bạch Phật rằng: " Thưa đức Thế-tôn, có uy-đức lớn, phát ra từ-âm không ngăn-ngại, khéo khai-ngộ những lỗi-lầm sâu-kín nhỏ-nhiệm của chúng-sinh, khiến cho chúng tôi ngày nay, thân-tâm khoan-khoái, được lợi-ích lớn. Bạch Thế-tôn, nếu cái chân-tâm diệu-minh trong-sạch nhiệm-mầu, bản-lai cùng khắp viên-mãn, như thế, cho đến bản-tính chân-như của đất liền, cỏ cây, các loài máy-động, tức là chân-thể thành Phật của Như-lai. Thể-tính của Phật đã là chân-thật, làm sao, lại có các đạo địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh, tu-la, loài người và trời. Bạch Thế-tôn, những đạo đó lại là bản-lai tự có, hay là do tập-khí giả-dối của chúng-sinh sinh-khởi ra?"
世尊!若此妙明真淨妙心本來遍圓,如是乃至大地草木、蠕動含靈本元真如,即是如來成佛真體,佛體真實,云何復有地獄、餓鬼、畜生、修羅、人、天等道?世尊!此道為復本來自有?為是眾生妄習生起?世尊!如寶蓮香比丘尼,持菩薩戒,私行婬欲,妄言行婬非殺、非偷,無有業報。發是語已,先於女根生大猛火,後於節節猛火燒然,墮無間獄。
Thế-tôn! Nhược thử diệu minh chân tịnh diệu tâm bản lai biến viên, như thị nãi chí đại địa thảo mộc, nhu động hàm linh bản nguyên chân như, tức thị Như-lai thành Phật chân thể, Phật thể chân thực, vân hà phục hữu địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, tu la, nhân, thiên đẳng đạo? Thế-tôn! Thử đạo vi phục bản lai tự hữu? Vi thị chúng sinh vọng tập sinh khởi? Thế-tôn! Như bảo liên hương tỳ-kheo ni, trì Bồ-tát giới, tư hành dâm dục, vọng ngôn hành dâm phi sát, phi thâu, vô hữu nghiệp báo. Phát thị ngữ dĩ, tiên ư nữ căn sinh đại mãnh hỏa, hậu ư tiết tiết mãnh hỏa thiêu nhiên, đọa vô gian ngục.
"Bạch Thế-tôn, như Tỳ-khưu-ni Bảo-liên-hương giữ Bồ-tát-giới, lén-lút làm việc dâm-dục, lại nói-càn rằng làm việc dâm-dục không phải giết người, không phải trộm-cắp, không có nghiệp-báo; phát-ra lời nói ấy rồi, trước hết nơi nữ-căn sinh ra ngọn lửa-hồng lớn, về sau từng đốt, từng đốt, bị lửa đốt cháy, sa vào địa ngục Vô-gián.
瑠璃大王、善星比丘;瑠璃為誅瞿曇族姓,善星妄說一切法空,生身陷入阿鼻地獄。
Lưu-ly đại vương, thiện tinh tỳ-kheo; lưu-ly vi tru Cù-đàm tộc tính, thiện tinh vọng thuyết nhất thiết pháp không, sinh thân hãm nhập a tỵ địa ngục.
Như đại-vương Lưu-ly; tỷ-khưu Thiện-tinh; Lưu-ly vì giết họ-hàng Cù-đàm, Thiện-tinh vì nói-càn tất-cả các pháp đều rỗng-không mà thân sống sa vào địa-ngục A-tỳ.
此諸地獄,為有定處?為復自然彼彼發業、各各私受?唯垂大慈,發開童蒙,令諸一切持戒眾生聞決定義,歡喜頂戴,謹潔無犯!」
Thử chư địa ngục, vi hữu định xứ? Vi phục tự nhiên bỉ bỉ phát nghiệp, các các tư thọ? Duy thùy đại từ, phát khai đồng mông, lệnh chư nhất thiết trì giới chúng sinh văn quyết định nghĩa, hoan hỷ đỉnh đội, cẩn khiết vô phạm!”
Các địa-ngục ấy, lại là có chỗ nhất-định, hay là tự-nhiên khi các người kia gây nghiệp, thì mỗi người, mỗi người chịu riêng? Xin Phật rủ lòng đại-từ, khai-ngộ cho kẻ ngây-thơ, khiến cho tất-cả chúng-sinh trì-giới, nghe nghĩa quyết-định, vui-mừng tôn-trọng kính-cẩn giữ-gìn không phạm".
MỤC III - KHAI-THỊ VỀ PHẬN-TRONG, PHẬN-NGOÀI CỦA CHÚNG-SINH
ĐOẠN I - NÊU CHUNG
佛告阿難:「快哉此問!令諸眾生不入邪見。汝今諦聽,當為汝說。
Phật cáo A-nan: “Khoái tai thử vấn! Lệnh chư chúng sinh bất nhập tà kiến. Nhữ kim đế thính, đương vi nhữ thuyết.
Phật bảo ông A-nan: "Hay thay lời hỏi đó, khiến cho các chúng-sinh không mắc tà-kiến. Nay ông hãy nghe cho chín, tôi sẽ vì ông mà nói.
「阿難!一切眾生實本真淨,因彼妄見有妄習生,因此分開內分、外分。
“A-nan! Nhất thiết chúng sinh thực bản chân tịnh, nhân bỉ vọng kiến hữu vọng tập sinh, nhân thử phân khai nội phân, ngoại phân.
A-nan, tất-cả chúng-sinh, thật vốn chân-tính thanh-tịnh, nhân những vọng-kiến, mà có tập-khí hư-vọng sinh ra; vì thế, chia ra có phận-trong và phận ngoài.
ĐOẠN II - PHẬN-TRONG
阿難!內分即是眾生分內。因諸愛染發起妄情,情積不休能生愛水。是故眾生心憶珍羞,口中水出;心憶前人或憐或恨,目中淚盈;貪求財寶,心發愛涎、舉體光潤;心著行婬,男女二根自然流液。阿難!諸愛雖別,流結是同。潤濕不昇,自然從墜,此名內分。
A-nan! Nội phân tức thị chúng sinh phân nội. Nhân chư ái nhiễm phát khởi vọng tình, tình tích bất hưu năng sinh ái thủy. Thị cố chúng sinh tâm ức trân tu, khẩu trung thủy xuất; tâm ức tiền nhân hoặc liên hoặc hận, mục trung lệ doanh; tham cầu tài bảo, tâm phát ái tiên, cử thể quang nhuận; tâm trước hành dâm, nam nữ nhị căn tự nhiên lưu dịch. A-nan! Chư ái tuy biệt, lưu kết thị đồng. Nhuận thấp bất thăng, tự nhiên tùng trụy, thử danh nội phân.
"A-nan, phận-trong, tức là ở trong phận của chúng-sinh. Nhân các lòng ái-nhiễm phát-khởi ra vọng-tình, tình chứa mãi không thôi, có thể sinh ra ái-thủy; vậy nên chúng-sinh, tâm nhớ thức-ăn ngon, thì trong miệng nước chảy ra; tâm nhớ người trước, hoặc thương, hoặc giận, thì trong con mắt lệ tràn; tham-cầu của báu, thì trong tâm phát-ra ái-diên, cả mình đều trơn-sáng; tâm dính vào việc dâm-dục, thì hai căn nam nữ tự-nhiên dịch-khí chảy ra. A-nan, các cái ái đó, tuy khác nhau, nhưng kết-quả chảy nước là đồng; thấm-ướt không lên được, tự-nhiên theo đó mà sa-đọa, ấy gọi là phận-trong.
ĐOẠN III - PHẬN-NGOÀI
「阿難!外分即是眾生分外。因諸渴仰,發明虛想,想積不休能生勝氣。是故眾生心持禁戒,舉身輕清;心持呪印,顧眄雄毅;心欲生天,夢想飛舉;心存佛國,聖境冥現;事善知識,自輕身命。阿難!諸想雖別,輕舉是同。飛動不沈,自然超越,此名外分。
“A-nan! Ngoại phân tức thị chúng sinh phân ngoại. Nhân chư khát ngưỡng, phát minh hư tưởng, tưởng tích bất hưu năng sinh thắng khí. Thị cố chúng sinh tâm trì cấm giới, cử thân khinh thanh; tâm trì chú ấn, cố miện hùng nghị; tâm dục sinh thiên, mộng tưởng phi cử; tâm tồn Phật quốc, thánh cảnh minh hiện; sự thiện tri thức, tự khinh thân mệnh. A-nan! Chư tưởng tuy biệt, khinh cử thị đồng. Phi động bất trầm, tự nhiên siêu việt, thử danh ngoại phân.
A-nan, phận-ngoài, tức là ngoài phận của chúng-sinh. Nhân các lòng phát-ngưỡng, phát-minh ra những lý-tưởng; tưởng chứa mãi không thôi, có thể sinh ra những thắng-khí; vậy nên chúng-sinh, tâm giữ cấm-giới, cả mình nhẹ-nhàng trong-sạch; tâm trì chú-ấn, con mắt ngó hùng-dũng nghiêm-nghị; tâm muốn sinh lên cõi trời, chiêm-bao thấy bay lên; để tâm nơi cỏi Phật, thánh-cảnh thầm-hiện ra; thờ vị thiện-tri-thức, tự khinh-rẻ thân-mệnh mình. A-nan, các tưởng đó tuy khác, nhưng nhẹ-nhàng cất lên thì đồng nhau; cất bay không chìm xuống, tự-nhiên vượt lên, đó là phận-ngoài.
ĐOẠN IV - PHÂN-BIỆT TÌNH, TƯỞNG NHẸ NẶNG
「阿難!一切世間生死相續,生從順習,死從變流。臨命終時,未捨暖觸,一生善惡俱時頓現。死逆、生順,二習相交。
“A-nan! Nhất thiết thế gian sinh tử tương tục, sinh tùng thuận tập, tử tùng biến lưu. Lâm mệnh chung thời, vị xả noãn xúc, nhất sinh thiện ác câu thời đốn hiện. Tử nghịch, sinh thuận, nhị tập tướng giao.
A-nan, tất-cả thế-gian, sống chết nối nhau, sống thuận theo tập-quán, chết thì đổi sang dòng khác, khi gần mệnh-chung, chưa hết hơi nóng, thiện ác một đời đồng-thời liền hiện ra; cái nghịch của chết, cái thuận của sống, hai tập-khí giao-xen lẫn nhau.
純想即飛,必生天上。若飛心中兼福兼慧及與淨願,自然心開見十方佛,一切淨土隨願往生。
Thuần tưởng tức phi, tất sinh thiên thượng. Nhược phi tâm trung kiêm phúc kiêm tuệ cập dữ tịnh nguyện, tự nhiên tâm khai kiến thập phương Phật, nhất thiết tịnh thổ tùy nguyện vãng sinh.
Thuần là tưởng, thì liền bay lên, chắc sinh trên các cõi-trời; nếu trong tâm bay lên, gồm có phúc-đức trí-tuệ cùng với tịnh-nguyện, thì tự-nhiên tâm được khai-ngộ, thấy tất-cả tịnh-độ thập phương chư Phật, theo nguyện mà vãng-sinh.
情少想多,輕舉非遠,即為飛仙、大力鬼王、飛行夜叉、地行羅剎,遊於四天所去無礙。其中若有善願善心護持我法,或護禁戒、隨持戒人,或護神呪、隨持呪者,或護禪定、保綏法忍,是等親住如來座下。
Tình thiểu tưởng đa, khinh cử phi viễn, tức vi phi tiên, đại lực quỷ vương, phi hành dạ xoa, địa hành la-sát, du ư tứ thiên sở khứ vô ngại. Kỳ trung nhược hữu thiện nguyện thiện tâm hộ trì ngã pháp, hoặc hộ cấm giới, tùy trì giới nhân, hoặc hộ thần chú, tùy trì chú giả, hoặc hộ thiền định, bảo tuy pháp nhẫn, thị đẳng thân trụ Như-lai tòa hạ.
Tình ít, tưởng nhiều, cất lên không xa, thì làm phi-tiên, đại-lực quỷ-vương, phi-hành dạ-xoa, địa-hành la-sát, đi khắp bốn cõi-trời, không bị ngăn-ngại. Nếu có nguyện tốt, tâm tốt, hộ-trì Phật-pháp, hoặc hộ-trì cấm-giới, theo người trì-giới, hoặc hộ-trì thần-chú, theo người trì-chú, hoặc hộ-trì thiền-định, giữ yên pháp-nhẫn, thì những hạng đó, chính mình được ở dưới pháp-tọa Như-lai.
情想均等,不飛、不墜,生於人間,想明斯聰,情幽斯鈍。情多想少,流入橫生;重為毛群,輕為羽族。
Tình tưởng quân đẳng, bất phi, bất trụy, sinh ư nhân gian, tưởng minh tư thông, tình u tư độn. Tình đa tưởng thiểu, lưu nhập hoạnh sinh; trọng vi mao quần, khinh vi vũ tộc.
Tình và tưởng cân nhau, không bay lên, không đọa xuống, thì sinh nơi nhân-gian; tưởng sáng-suốt nên thông-minh, tình u-ám nên ngu-độn. Tình nhiều, tưởng ít, đi vào các loại hoành-sinh, nặng làm giống có lông, nhẹ làm giống có cánh.
七情、三想,沈下水輪,生於火際,受氣猛火,身為餓鬼,常被焚燒;水能害己,無食無飲經百千劫。
Thất tình, tam tưởng, trầm hạ thủy luân, sinh ư hỏa tế, thọ khí mãnh hỏa, thân vi ngạ quỷ, thường bị phần thiêu; thủy năng hại kỷ, vô thực vô ẩm kinh bách thiên kiếp.
Bảy phần tình, ba phần tưởng, chìm xuống dưới thủy-luân, sinh nơi mé hỏa-luân chịu khí-phần của lửa-hồng, thân làm ngạ-quỷ, thường bị đốt-cháy, vì nước có thể hại mình, nên trải trăm nghìn kiếp, không ăn không uống.
九情一想,下洞火輪,身入風、火二交過地,輕生有間、重生無間二種地獄。
Cửu tình nhất tưởng, hạ động hỏa luân, thân nhập phong, hỏa nhị giao quá địa, khinh sinh hữu gian, trọng sinh vô gian nhị chủng địa ngục.
Chín phần tình, một phần tưởng, xuống thấu qua hỏa-luân, và giữa giao-giới phong-luân và hỏa-luân, nhẹ thì sinh vào Hữu-gián, nặng thì mình vào Vô-gián, hai thứ địa-ngục.
純情即沈,入阿鼻獄。若沈心中有謗大乘、毀佛禁戒、誑妄說法、虛貪信施、濫膺恭敬、五逆十重,更生十方阿鼻地獄。
Thuần tình tức trầm, nhập a tỵ ngục. Nhược trầm tâm trung hữu báng đại thừa, hủy Phật cấm giới, cuống vọng thuyết pháp, hư tham tín thi, lạm ưng cung kính, ngũ nghịch thập trọng, cánh sinh thập phương a tỵ địa ngục.
Thuần là tình, thì chìm-sâu vào ngục A-tỳ; nếu trong tâm chìm-sâu đó, lại có hủy-báng Đại-thừa, phá cấm-giới của Phật, lừa-dối nói pháp để tham-cầu tín-thí, lạm-nhận cung-kính hoặc phạm ngũ-nghịch, thập-trọng thì lại còn sinh vào địa-ngục A-tỳ thập phương.
循造惡業,雖則自招,眾同分中兼有元地。
Tuần tạo ác nghiệp, tuy tắc tự chiêu, chúng đồng phân trung kiêm hữu nguyên địa.
Theo ác-nghiệp gây ra, tuy tự chuốc lấy quả-báo, nhưng trong đồng-phận chung, vẫn có chỗ sẵn.
MỤC IV - CHỈ RA MƯỜI TẬP-NHÂN VÀ SÁU GIAO-BÁO
ĐOẠN I - TÓM NÊU DANH-MỤC
「阿難!此等皆是彼諸眾生自業所感,造十習因,受六交報。
“A-nan! Thử đẳng giai thị bỉ chư chúng sinh tự nghiệp sở cảm, tạo thập tập nhân, thọ lục giao báo.
"A-nan, những điều như thế, đều do nghiệp-báo các chúng-sinh kia, tự chiêu-cảm lấy, như gây mười Tập-nhân, thì chịu sáu Giao-báo.
ĐOẠN II - KHAI-THỊ MƯỜI TẬP-NHÂN
「云何十因?「阿難!一者、婬習交接,發於相磨,研磨不休,如是故有大猛火光於中發動;如人以手自相磨觸,暖相現前。二習相然,故有鐵床、銅柱諸事。是故十方一切如來,色目行婬同名欲火,菩薩見欲如避火坑。「二者、貪習交計,發於相吸,吸攬不止,如是故有積寒堅氷於中凍冽;如人以口吸縮風氣,有冷觸生。二習相凌,故有吒吒、波波、囉囉、青、赤、白蓮、寒氷等事。是故十方一切如來,色目多求同名貪水。菩薩見貪如避瘴海。
“Vân hà thập nhân? “A-nan! Nhất giả, dâm tập giao tiếp, phát ư tướng ma, nghiên ma bất hưu, như thị cố hữu đại mãnh hỏa quang ư trung phát động; như nhân dĩ thủ tự tướng ma xúc, noãn tướng hiện tiền. Nhị tập tướng nhiên, cố hữu thiết sàng, đồng trụ chư sự. Thị cố thập phương nhất thiết Như-lai, sắc mục hành dâm đồng danh dục hỏa, Bồ-tát kiến dục như tị hỏa khanh. “Nhị giả, tham tập giao kế, phát ư tướng hấp, hấp lãm bất chỉ, như thị cố hữu tích hàn kiên băng ư trung đông liệt; như nhân dĩ khẩu hấp súc phong khí, hữu lạnh xúc sinh. Nhị tập tướng lăng, cố hữu tra tra, ba ba, la la, thanh, xích, bạch liên, hàn băng đẳng sự. Thị cố thập phương nhất thiết Như-lai, sắc mục đa cầu đồng danh tham thủy. Bồ-tát kiến tham như tị chướng hải.
"Thế nào là mười Tập-nhân? A-nan, một là, tập-quán dâm-dục, giao-tiếp cùng nhau, phát-sinh cọ-xát lẫn nhau; cọ-xát mãi không thôi, như thế, nên trong ấy có ngọn lửa-hồng lớn nổi lên; ví-như, có người lấy hai bàn tay cọ-xát lẫn nhau, thì cảm-giác nóng hiện ra. Hai cái tập-khí đốt nhau, nên có những việc giường sắt, trụ đồng. Vậy nên, tất-cả các đức Như-lai thập phương nhận-xét việc dâm-dục, đồng gọi là lửa-dục; Bồ-tát đối với dâm-dục, tránh như hầm-lửa. Hai, là tập-quán tham-lam, so-đo hơn thiệt, phát-sinh hấp-thụ lẫn nhau; hấp-thụ ôm-ấp mãi không thôi, như thế, nên chứa hơi-lạnh bên trong thành giá-cứng, làm cho nẻ-nứt; ví-như, có người hút hơi gió vào, thì có cảm-xúc lạnh. Hai tập-khí lấn nhau, nên có những sự tra tra, ba ba, la la, thanh-liên, xích-liên, bạch-liên, hàn-băng, vân vân... Vậy nên, tất-cả các đức Như-lai thập phương nhận-xét việc tham-cầu quá nhiều, đồng gọi là nước tham; Bồ-tát đối với lòng tham, tránh như biển-độc.
「三者、慢習交凌,發於相恃,馳流不息,如是故有騰逸奔波,積波為水;如人口舌自相綿味,因而水發。二習相鼓,故有血河、灰河、熱沙、毒海、融銅、灌吞諸事。是故十方一切如來,色目我慢名飲癡水,菩薩見慢如避巨溺。
“Tam giả, mạn tập giao lăng, phát ư tướng thị, trì lưu bất tức, như thị cố hữu đằng dật bôn ba, tích ba vi thủy; như nhân khẩu thiệt tự tướng miên vị, nhân nhi thủy phát. Nhị tập tướng cổ, cố hữu huyết hà, hôi hà, nhiệt sa, độc hải, dung đồng, quán thôn chư sự. Thị cố thập phương nhất thiết Như-lai, sắc mục ngã mạn danh ẩm si thủy, Bồ-tát kiến mạn như tị cự nịch.
Ba, là tập-quán ngã-mạn, lấn-lướt lẫn nhau, phát-sinh ỷ-thế với nhau. Giong-ruổi không thôi, như thế, nên có sự bôn-ba, sôi-nổi, chứa lại thành nước; ví-như, có người miệng lưỡi tự chép, làm cho nước-bọt chảy ra. Hai tập-khí chọi nhau, nên có các việc sông huyết, sông tro, cát-nóng, biển-độc, bắt uống nước đồng-chảy vân vân... Vậy nên, tất-cả các đức Như-lai mười phương nhận-xét lòng ngã-mạn, đồng gọi là uống nước si-mê; Bồ-tát đối-với ngã-mạn, tránh như vực-thẳm lớn.
「四者、嗔習交衝,發於相忤,忤結不息,心熱發火,鑄氣為金,如是故有刀山、鐵橛、劍樹、劍輪、斧鉞、鎗鋸;如人銜冤殺氣飛動。二習相擊,故有宮、割、斬、斫、剉、刺、搥、擊諸事。是故十方一切如來,色目嗔恚名利刀劍,菩薩見嗔如避誅戮。
“Tứ giả, sân tập giao xung, phát ư tướng ngỗ, ngỗ kết bất tức, tâm nhiệt phát hỏa, chú khí vi kim, như thị cố hữu đao sơn, thiết quyết, kiếm thụ, kiếm luân, phủ việt, thương cứ; như nhân hàm oan sát khí phi động. Nhị tập tướng kích, cố hữu cung, cắt, trảm, chước, tỏa, thứ, trùy, kích chư sự. Thị cố thập phương nhất thiết Như-lai, sắc mục sân huệ danh lợi đao kiếm, Bồ-tát kiến sân như tị tru lục.
Bốn, là tập-quán nóng-giận, xung-đột cùng nhau, phát-sinh chống-đối lẫn nhau; chống-đối mãi không thôi, tâm nổi nóng, phát ra lửa, nấu cái khí thành kim-thuộc, vì thế, nên có núi dao, đòn sắt, cây gươm, bánh xe gươm, những búa, những vớt, những thương, những cưa; ví-như, có người bị hàm-oan, thì sát-khí nổi lên. Hai tập-khí đập nhau, nên có các sự thiến, cắt, chém, chặt, dùi, đâm, đập, đánh. Vậy nên, tất-cả các đức Như-lai thập phương nhận-xét sự nóng-giận, đồng gọi là dao-gươm bén; Bồ-tát đối với lòng nóng-giận, tránh như tránh chém-giết.
「五者、詐習交誘,發於相調,引起不住,如是故有繩木、絞挍;如水浸田,草木生長。二習相延,故有杻械、枷鎖、鞭杖、撾棒諸事。是故十方一切如來,色目姦偽同名讒賊,菩薩見詐如畏犲狼。
“Ngũ giả, trá tập giao dụ, phát ư tướng điều, dẫn khởi bất trụ, như thị cố hữu thằng mộc, giảo hiệu; như thủy tẩm điền, thảo mộc sinh trưởng. Nhị tập tướng diên, cố hữu nữu giới, gia tỏa, tiên trượng, qua bổng chư sự. Thị cố thập phương nhất thiết Như-lai, sắc mục gian ngụy đồng danh sàm tặc, Bồ-tát kiến trá như úy sài lang.
Năm, là tập-quán giả-dối, dụ-dỗ theo nhau, phát-sinh lôi-kéo lẫn nhau; dẫn-dắt mãi không thôi, như thế, nên có giây, cây, thòng-lọng, căng-nọc; ví-như, nước thấm ruộng thì cỏ-cây lớn lên. Hai tập-khí kéo-nhau, nên có các sự gông, cùm, xiềng, xích, roi, gậy, qua, bổng. Vậy nên, tất-cả các đức Như-lai thập phương nhận-xét sự giả-dối, đồng gọi là sàm-tặc; Bồ-tát đối với sự gian-dối, sợ như beo-sói.
「六者、誑習交欺,發於相誷,誣誷不止,飛心造姦,如是故有塵土、屎尿、穢污不淨;如塵隨風,各無所見。二習相加,故有沒溺、騰擲、飛墜、漂淪諸事。是故十方一切如來,色目欺誑同名劫殺,菩薩見誑如踐蛇虺。「七者、怨習交嫌,發于銜恨,如是故有飛石、投礰、匣貯、車檻、甕盛、囊撲;如陰毒人,懷抱畜惡。二習相吞,故有投擲、擒捉、擊射、𢱍撮諸事。是故十方一切如來,色目怨家名違害鬼,菩薩見怨如飲鴆酒。
“Lục giả, cuống tập giao khi, phát ư tướng võng, vu võng bất chỉ, phi tâm tạo gian, như thị cố hữu trần thổ, thỉ niệu, uế ô bất tịnh; như trần tùy phong, các vô sở kiến. Nhị tập tướng gia, cố hữu một nịch, đằng trịch, phi trụy, phiêu luân chư sự. Thị cố thập phương nhất thiết Như-lai, sắc mục khi cuống đồng danh kiếp sát, Bồ-tát kiến cuống như tiễn xà hủy. “Thất giả, oán tập giao hiềm, phát vu hàm hận, như thị cố hữu phi thạch, đầu lịch, hạp trữ, xa hạm, úng thịnh, nang phác; như âm độc nhân, hoài bão súc ác. Nhị tập tướng thôn, cố hữu đầu trịch, cầm tróc, kích xạ, phốc toát chư sự. Thị cố thập phương nhất thiết Như-lai, sắc mục oán gia danh vi hại quỷ, Bồ-tát kiến oán như ẩm trậm tửu.
Sáu, là tập-quán lừa-gạt, lừa-dối với nhau, phát-sinh phỉnh-gạt lẫn nhau; phỉnh-gạt mãi không thôi, phát-tâm gây điều gian-dối; như thế, nên có bụi, đất, đại-tiện, tiểu-tiện, các đồ nhơ-nhớp không sạch; như bụi theo gió, không thấy lẫn nhau. Hai tập-khí dìm nhau, nên có những sự chìm-đắm, nhảy, ném, bay, rơi, trôi-lăn. Vậy nên, tất-cả các đức Như-lai thập phương nhận-xét sự lừa-gạt, đồng gọi là cướp-giết; Bồ-tát đối với sự lừa-gạt, như giẫm rắn-độc. Bảy, là tập-quán thù-oán, hiềm-khích lẫn nhau, phát-sinh ôm-ấp lòng giận, như thế, nên có quăng đá, ném gạch, hộp nhốt, xe cũi, bình-đựng, đãy-bọc, như người hiểm-độc ôm-ấp điều dữ. Hai tập-khí nuốt nhau, nên có những sự ném, quăng, nắm, bắt, đánh, bắn, gieo, ôm. Vậy nên, tất-cả các đức Như-lai thập phương nhận-xét sự thù-oán, gọi là quỷ Vi-hại; Bồ-tát đối với sự thù-oán, như uống ruợu-độc.
「八者、見習交明,如薩迦耶、見、戒禁取、邪悟諸業,發於違拒,出生相返;如是故有王使主吏、證執文籍;如行路人,來往相見。二習相交,故有勘問、權詐、考訊、推鞫、察訪、披究、照明,善惡童子手執文簿辭辯諸事。是故十方一切如來,色目惡見同名見坑,菩薩見諸虛妄遍執,如入毒壑。
“Bát giả, kiến tập giao minh, như tát-ca-da, kiến, giới cấm thủ, tà ngộ chư nghiệp, phát ư vi cự, xuất sinh tướng phản; như thị cố hữu vương sử chủ lại, chứng chấp văn tịch; như hành lộ nhân, lai vãng tướng kiến. Nhị tập tướng giao, cố hữu khám vấn, quyền trá, khảo tấn, suy cúc, sát phỏng, phi cứu, chiếu minh, thiện ác đồng tử thủ chấp văn bạ từ biện chư sự. Thị cố thập phương nhất thiết Như-lai, sắc mục ác kiến đồng danh kiến khanh, Bồ-tát kiến chư hư vọng biến chấp, như nhập độc hác.
Tám, là tập-quán ác-kiến, tranh-cãi với nhau, như ngã-kiến, kiến-thủ, giới-cấm-thủ và các nghiệp tà-ngộ, phát-sinh chống-trái lẫn nhau; như thế, nên có quan-lại chứng-thực, nắm-giữ giấy-tờ, đông như người đi đường, qua lại gặp nhau. Hai tập-khí giao nhau, nên có các sự khám-hỏi, mưu-mẹo, khảo-tấn, đòi-hỏi, gạn-xét, cứu-tra cho rõ và những đồng-tử thiện-ác, tay cầm sổ-sách, biện-bạch cãi-vã. Vậy nên, tất-cả các đức Như-lai thập phương nhận-xét ác-kiến, đồng gọi là kiến-khanh; Bồ-tát đối với những thiên-chấp hư-vọng, như đứng bên hố-độc.
「九者、枉習交加,發於誣謗,如是故有合山、合石、碾磑、耕磨;如讒賊人,逼枉良善。二習相排,故有押捺、搥按、蹙漉、衡度諸事。是故十方一切如來,色目怨謗同名讒虎,菩薩見枉如遭霹靂。
“Cửu giả, uổng tập giao gia, phát ư vu báng, như thị cố hữu hợp sơn, hợp thạch, niễn ngôi, canh ma; như sàm tặc nhân, bức uổng lương thiện. Nhị tập tướng bài, cố hữu áp nại, trùy án, xúc lộc, hành độ chư sự. Thị cố thập phương nhất thiết Như-lai, sắc mục oán báng đồng danh sàm hổ, Bồ-tát kiến uổng như tao phích lịch.
Chín, là tập-quán vu-vạ, làm hại cho nhau, phát-sinh sự vu-báng, như thế, nên có hợp-sơn, hợp-thạch, cối-nghiền, cối-xay; ví-như, kẻ sàm-tặc, áp-bức vu-oan người lương-thiện. Hai tập-khí bài xích lẫn nhau, nên có các sự áp-giải, đè-đập, ép-huyết, tuốt-mình. Vậy nên, tất-cả các đức Như-lai thập phương, nhận-xét sự vu-vạ, đồng gọi là sàm-hổ; Bồ-tát đối với sự vu-vạ, như bị sấm-sét.
「十者、訟習交諠,發於藏覆,如是故有鑒見、照燭;如於日中不能藏影,故有惡友、業鏡、火珠、披露宿業、對驗諸事。是故十方一切如來,色目覆藏同名陰賊,菩薩觀覆,如戴高山,履於巨海。
“Thập giả, tụng tập giao huyên, phát ư tàng phúc, như thị cố hữu giám kiến, chiếu chúc; như ư nhật trung bất năng tàng ảnh, cố hữu ác hữu, nghiệp kính, hỏa châu, phi lộ túc nghiệp, đối nghiệm chư sự. Thị cố thập phương nhất thiết Như-lai, sắc mục phúc tàng đồng danh âm tặc, Bồ-tát quán phúc, như đội cao sơn, lý ư cự hải.
Mười, là tập-quán kiện-thưa, cãi-vã lẫn nhau, phát-sinh sự che-đậy; như thế, nên có gương soi, đuốc chiếu, như giữa ban ngày, không giấu bóng được. Hai tập-khí phô-bày lẫn nhau, nên có ác-hữu, nghiệp kính, hỏa-châu phơi-bày nghiệp xưa đối-nghiệm các việc. Vậy nên, tất-cả các đức Như-lai thập phương nhận-xét sự che-đậy, gọi là giặc-ngầm; Bồ-tát đối với sự che-đậy, như đội núi cao, lội trong biển lớn.
ĐOẠN III - TÓM NÊU SÁU GIAO-BÁO
「云何六報?阿難!一切眾生六識造業,所招惡報從六根出。
“Vân hà lục báo? A-nan! Nhất thiết chúng sinh lục thức tạo nghiệp, sở chiêu ác báo tùng lục căn xuất.
"Thế nào là sáu Giao-báo? A-nan, tất-cả chúng-sinh, sáu thức gây nghiệp, nên ác-báo chuốc-lấy, đều từ sáu căn mà ra."
ĐOẠN IV - KHAI-THỊ SÁU GIAO-BÁO
「云何惡報從六根出?
“Vân hà ác báo tùng lục căn xuất?
"Các ác-báo từ sáu căn ra như thế nào?
「一者、見報招引惡果。此見業交,則臨終時,先見猛火滿十方界。亡者神識飛墜乘煙,入無間獄。發明二相:「一者、明見,則能遍見種種惡物,生無量畏。二者、暗見,寂然不見,生無量恐。如是見火:燒聽,能為鑊湯、洋銅;燒息,能為黑烟、紫焰;燒味,能為燋丸、鐵糜;燒觸,能為熱灰、鑪炭;燒心,能生星火迸灑,煽鼓空界。
“Nhất giả, kiến báo chiêu dẫn ác quả. Thử kiến nghiệp giao, tắc lâm chung thời, tiên kiến mãnh hỏa mãn thập phương giới. Vong giả thần thức phi trụy thừa yên, nhập vô gian ngục. Phát minh nhị tướng: “Nhất giả, minh kiến, tắc năng biến kiến chủng chủng ác vật, sinh vô lượng úy. Nhị giả, ám kiến, tịch nhiên bất kiến, sinh vô lượng khủng. Như thị kiến hỏa: Thiêu thính, năng vi hoạch thang, dương đồng; thiêu tức, năng vi hắc yên, tử diễm; thiêu vị, năng vi tiêu hoàn, thiết my; thiêu xúc, năng vi nhiệt hôi, lò thán; thiêu tâm, năng sinh tinh hỏa bính sái, phiến cổ không giới.
Một, là giao-báo về thấy, chiêu-cảm ác-quả. Khi nghiệp-thấy ấy giao-báo, thì lúc lâm-chung, trước hết thấy lửa-hồng đầy khắp 10 phương; thần-thức người chết bay rơi theo khói vào ngục Vô-gián, phát ra hai tướng: Một là thấy sáng, thì khắp thấy nhiều thứ vật-dữ, sinh ra khiếp-sợ vô-cùng; hai là thấy tối, lặng vậy không thấy gì sinh ra hoảng-hốt vô-hạn. Lửa thấy như thế, đốt cái nghe, thì có thể làm vạc-dầu sôi, làm nước đồng-chảy; đốt hơi-thở, thì có thể làm khói-đen, lửa đỏ; đốt cái nếm, thì có thể làm viên tròn nung-đỏ, làm cơm-sắt; đốt cảm-xúc, thì có thể làm tro-nóng, lò-than; đốt tâm-ý, thì có thể sinh ra sao-lửa rưới khắp, làm rung-động cả cõi hư-không.
「二者、聞報招引惡果。此聞業交,則臨終時,先見波濤沒溺天地。亡者神識降注乘流,入無間獄。發明二相:一者、開聽,聽種種鬧,精神愗亂。二者、閉聽,寂無所聞,幽魄沈沒。如是聞波:注聞,則能為責、為詰;注見,則能為雷、為吼、為惡毒氣;注息,則能為雨、為霧,灑諸毒虫周滿身體;注味,則能為膿、為血,種種雜穢;注觸,則能為畜、為鬼、為𡱁、為尿;注意,則能為電、為雹,摧碎心魄。
“Nhị giả, văn báo chiêu dẫn ác quả. Thử văn nghiệp giao, tắc lâm chung thời, tiên kiến ba đào một nịch thiên địa. Vong giả thần thức hàng chú thừa lưu, nhập vô gian ngục. Phát minh nhị tướng: Nhất giả, khai thính, thính chủng chủng náo, tinh thần mậu loạn. Nhị giả, bế thính, tịch vô sở văn, u phách trầm một. Như thị văn ba: Chú văn, tắc năng vi trách, vi cật; chú kiến, tắc năng vi lôi, vi hống, vi ác độc khí; chú tức, tắc năng vi vũ, vi vụ, sái chư độc trùng chu mãn thân thể; chú vị, tắc năng vi nùng, vi huyết, chủng chủng tạp uế; chú xúc, tắc năng vi súc, vi quỷ, vi thỉ, vi niệu; chú ý, tắc năng vi điện, vi bạc, tồi toái tâm phách.
Hai, là giao-báo về nghe, chiêu-cảm ác-quả. Khi nghiệp-nghe ấy giao-báo, thì lúc lâm-chung, trước hết, thấy sóng cuộn chìm-ngập trời đất; thần-thức người chết, sa xuống theo dòng vào ngục Vô-gián, phát ra hai tướng: Một là nghe tỏ, nghe các thứ ồn-ào, tinh-thần rối-loạn; hai là điếc hẳn, lặng-lẽ, không nghe gì, thức-thần chìm-lịm. Sóng nghe như thế, rót vào cái nghe, thì có thể làm trách, làm hỏi; rót vào cái thấy, thì có thể làm sấm, làm thét, làm hơi-độc-dữ; rót vào hơi thở, thì có thể làm mưa, làm mù, rưới các sâu-độc đầy khắp thân-thể; rót vào các vị, thì có thể làm mủ, làm huyết, các thứ nhơ-nhớp; rót vào cảm-xúc, thì có thể làm con súc, làm con quỷ, làm phân, làm nước-tiểu; rót vào ý-nghĩ, thì có thể làm chớp, làm mưa-đá, đập nát tâm-thức.
「三者、嗅報招引惡果。此嗅業交,則臨終時,先見毒氣充塞遠近。亡者神識從地涌出,入無間獄。發明二相:一者、通聞,被諸惡氣,薰極心擾。二者、塞聞,氣掩不通,悶絕於地。如是嗅氣:衝息,則能為質、為履;衝見,則能為火、為炬;衝聽,則能為沒、為溺、為洋、為沸;衝味,則能為餒、為爽;衝觸,則能為綻、為爛、為大肉山,有百千眼無量𠯗食;衝思,則能為灰、為瘴、為飛砂礰擊碎身體。
“Tam giả, khứu báo chiêu dẫn ác quả. Thử khứu nghiệp giao, tắc lâm chung thời, tiên kiến độc khí sung tắc viễn cận. Vong giả thần thức tùng địa dũng xuất, nhập vô gian ngục. Phát minh nhị tướng: Nhất giả, thông văn, bị chư ác khí, huân cực tâm nhiễu. Nhị giả, tắc văn, khí yểm bất thông, muộn tuyệt ư địa. Như thị khứu khí: Xung tức, tắc năng vi chất, vi lý; xung kiến, tắc năng vi hỏa, vi cự; xung thính, tắc năng vi một, vi nịch, vi dương, vi phí; xung vị, tắc năng vi nỗi, vi sảng; xung xúc, tắc năng vi trán, vi lạn, vi đại nhục sơn, hữu bách thiên nhãn vô lượng táp thực; xung tư, tắc năng vi hôi, vi chướng, vi phi sa lịch kích toái thân thể.
Ba, là giao-báo về ngửi, chiêu-cảm ác-quả. Khi nghiệp-ngửi ấy giao-báo, thì lúc lâm-chung, trước hết, thấy hơi-độc đầy-nhẩy xa gần; thần-thức người chết, từ dưới đất trổi lên, vào ngục Vô-gián, phát-hiện ra hai tướng: Một là ngửi thông, bị các hơi dữ xông tột-bực, làm cho tâm rối-loạn; hai là ngạt mũi, hơi-thở ngạt không thông, nằm chết-giấc dưới đất. Hơi ngửi như thế, xông vào hơi-thở, thì có thể làm thông, làm ngạt; xông vào cái thấy, thì có thể làm lửa, làm đuốc; xông vào cái nghe, thì có thể làm chìm-ngập, làm chết-đuối, làm nước-lớn, làm nước-sôi; xông vào cái vị, thì có thể làm đói, làm ngấy; xông vào cái cảm-xúc, thì có thể làm xấu, làm nát, làm núi-thịt lớn có trăm ngàn con mắt, hút-ăn không cùng; xông vào ý-nghĩ, thì có thể làm tro, làm chướng-khí, làm gạch-đá bay lên đánh-nát thân-thể.
「四者、味報招引惡果。此味業交,則臨終時,先見鐵網猛炎熾烈周覆世界。亡者神識下透挂網倒懸其頭,入無間獄。發明二相:一者、吸氣,結成寒氷,凍裂身肉。二者、吐氣,飛為猛火,燋爛骨髓。如是嘗味:歷嘗,則能為承、為忍;歷見,則能為然金石;歷聽,則能為利兵刃;歷息,則能為大鐵籠彌覆國土;歷觸,則能為弓、為箭、為弩、為射;歷思,則能為飛熱鐵從空雨下。
“Tứ giả, vị báo chiêu dẫn ác quả. Thử vị nghiệp giao, tắc lâm chung thời, tiên kiến thiết võng mãnh viêm sí liệt chu phúc thế giới. Vong giả thần thức hạ thấu quải võng đảo huyền kỳ đầu, nhập vô gian ngục. Phát minh nhị tướng: Nhất giả, hấp khí, kết thành hàn băng, đông liệt thân nhục. Nhị giả, thổ khí, phi vi mãnh hỏa, tiêu lạn cốt tủy. Như thị thường vị: Lịch thường, tắc năng vi thừa, vi nhẫn; lịch kiến, tắc năng vi nhiên kim thạch; lịch thính, tắc năng vi lợi binh nhận; lịch tức, tắc năng vi đại thiết lung di phúc quốc độ; lịch xúc, tắc năng vi cung, vi tiễn, vi nỗ, vi xạ; lịch tư, tắc năng vi phi nhiệt thiết tùng không vũ hạ.
Bốn, là giao-báo về vị, chiêu-cảm ác-quả. Khi nghiệp-vị ấy giao-báo, thì lúc lâm-chung, trước hết, thấy lưới-sắt nung-đỏ che khắp thế-giới; thần-thức người chết từ dưới tung lên, mắc lưới treo ngược đầu xuống, vào ngục Vô-gián, phát ra hai tướng : Một là nuốt vào, thì kết-thành giá-lạnh, làm nứt-nẻ thân-thể; hai là mửa ra, thì bay lên thành lửa-hồng, đốt-rụi xương-tủy. Vị-báo như thế, qua cái nếm, thì có thể làm nhận, làm chịu; qua cái thấy, thì có thể làm các thứ kim-thạch đốt-cháy; qua cái nghe, thì có thể làm binh-khí sắc-bén; qua hơi-thở, thì có thể làm lồng-sắt lớn che khắp cõi-nước; qua cảm-xúc, thì có thể làm cung, làm tên, làm mỏ, làm bắn; qua ý-nghĩ, thì có thể làm sắt-nóng bay, từ trên không rưới xuống.
「五者、觸報招引惡果。此觸業交,則臨終時,先見大山四面來合無復出路。亡者神識見大鐵城,火蛇、火狗、虎、狼、師子,牛頭獄卒、馬頭羅剎手執槍矟驅入城門,向無間獄。發明二相:一者、合觸,合山逼體,骨肉血潰。二者、離觸,刀、劍觸身,心、肝屠裂。如是合觸:歷觸,則能為道、為觀、為廳、為案;歷見,則能為燒、為爇;歷聽,則能為撞、為擊、為剚、為射;歷息,則能為括、為袋、為拷、為縛;歷嘗,則能為耕、為鉗、為斬、為截;歷思,則能為墜、為飛、為煎、為炙。
“Ngũ giả, xúc báo chiêu dẫn ác quả. Thử xúc nghiệp giao, tắc lâm chung thời, tiên kiến đại sơn tứ diện lai hợp vô phục xuất lộ. Vong giả thần thức kiến đại thiết thành, hỏa xà, hỏa cẩu, hổ, lang, sư tử, ngưu đầu ngục tốt, mã đầu la-sát thủ chấp thương sác khu nhập thành môn, hướng vô gian ngục. Phát minh nhị tướng: Nhất giả, hợp xúc, hợp sơn bức thể, cốt nhục huyết hội. Nhị giả, ly xúc, đao, kiếm xúc thân, tâm, can đồ liệt. Như thị hợp xúc: Lịch xúc, tắc năng vi đạo, vi quán, vi sảnh, vi án; lịch kiến, tắc năng vi thiêu, vi nhiệt; lịch thính, tắc năng vi tràng, vi kích, vi tứ, vi xạ; lịch tức, tắc năng vi quát, vi đại, vi khảo, vi phược; lịch thường, tắc năng vi canh, vi kiềm, vi trảm, vi tiệt; lịch tư, tắc năng vi trụy, vi phi, vi chiên, vi chích.
Năm, là giao-báo về xúc, chiêu-cảm ác-quả. Khi nghiệp-xúc ấy giao-báo, thì lúc lâm-chung, trước hết, thấy núi lớn bốn mặt hợp lại, không còn đường ra; thần-thức người chết thấy thành-sắt lớn, rắn-lửa, chó lửa, hùm-sói, sư-tử, ngục-tốt đầu trâu, la-sát đầu ngựa, tay cầm thương, xóc, lùa vào cửa thành, hướng về ngục Vô-gián, phát ra hai tướng; Một là hợp-xúc, thì núi kẹp ép mình, xương-thịt nát ra máu; hai là ly-xúc, thì dao gươm chạm vào mình, tim gan cắt-xẻ. Xúc-báo như vậy, qua cái xúc, thì có thể làm đạo, làm quán, làm sảnh, làm án; qua cái thấy, thì có thể làm đốt, làm nung; qua cái nghe, thì có thể làm đập, làm đánh, làm đâm, làm bắn; qua hơi-thở, thì có thể làm trùm, làm đẫy, làm tra, làm trói; qua cái nếm, thì có thể làm cày, làm kiềm, làm chém, làm chặt; qua ý-nghĩ, thì có thể làm rơi, làm bay làm nấu, làm nướng.
「六者、思報招引惡果。此思業交,則臨終時先見惡風吹壞國土。亡者神識被吹上空旋落乘風,墮無間獄。發明二相:一者、不覺,迷極則荒,奔走不息。二者、不迷,覺知則苦,無量煎燒痛深難忍。如是邪思:結思,則能為方、為所;結見,則能為鑒、為證;結聽,則能為大合石、為氷、為霜、為土、為霧;結息,則能為大火車、火船、火檻;結嘗,則能為大叫喚、為悔、為泣;結觸,則能為大、為小、為一日中萬生萬死、為偃、為仰。
“Lục giả, tư báo chiêu dẫn ác quả. Thử tư nghiệp giao, tắc lâm chung thời tiên kiến ác phong xuy hoại quốc độ. Vong giả thần thức bị xuy thượng không toàn lạc thừa phong, đọa vô gian ngục. Phát minh nhị tướng: Nhất giả, bất giác, mê cực tắc hoang, bôn tẩu bất tức. Nhị giả, bất mê, giác tri tắc khổ, vô lượng chiên thiêu thống thâm nan nhẫn. Như thị tà tư: Kết tư, tắc năng vi phương, vi sở; kết kiến, tắc năng vi giám, vi chứng; kết thính, tắc năng vi đại hợp thạch, vi băng, vi sương, vi thổ, vi vụ; kết tức, tắc năng vi đại hỏa xa, hỏa thuyền, hỏa hạm; kết thường, tắc năng vi đại khiếu hoán, vi hối, vi khấp; kết xúc, tắc năng vi đại, vi tiểu, vi nhất nhật trung vạn sinh vạn tử, vi yển, vi ngưỡng.
Sáu, là giao-báo về ý-nghĩ, chiêu-cảm ác-quả. Khi nghiệp-ý ấy giao-báo, thì lúc lâm-chung, trước hết thấy gió-dữ thổi-nát cõi nước, thần-thức người chết bị thổi lên trên không xoay-rơi theo gió, sa vào ngục Vô-gián, phát ra hai tướng: Một là không biết, tột mê, thì hoang-mang, ruổi-chạy không thôi; hai là không mê, hay-biết, thì khổ, bị đốt-cháy không cùng, đau-buốt không chịu nổi. Ý-báo như thế, kết vào ý-nghĩ, thì có thể làm phương, làm sở; kết vào cái thấy, có thể làm gương-soi, làm chứng-cứ; kết vào cái nghe, thì có thể làm đại-hợp-thạch, làm giá, làm sương, làm đất, làm mù; kết vào hơi-thở, thì có thể làm xe-lửa lớn, làm thuyền lửa, cũi-lửa; kết vào cái nếm, thì có thể làm kêu-la to, làm ăn-năn, làm khóc-lóc; kết vào cái cảm-xúc, thì có thể làm lớn, làm nhỏ, làm cho một ngày muôn lần sống, muôn lần chết, làm nghiêng, làm ngửa.
ĐOẠN V - KẾT-LUẬN NÓI VỀ TẬP-NHÂN, GIAO-BÁO KHI TOÀN, KHI KHUYẾT VÀ ĐÁP LẠI LÀ GÂY NGHIỆP-RIÊNG MÀ CÓ ĐỒNG-PHẬN-CHUNG "A-nan, thế gọi là 10 nhân và 6 quả của điạ-ngục, nhân-quả ấy đều do mê-vọng của chúng-sinh tạo ra.
「阿難!是名地獄十因、六果,皆是眾生迷妄所造。
“A-nan! Thị danh địa ngục thập nhân, lục quả, giai thị chúng sinh mê vọng sở tạo.
(đoạn này thiếu trong ebook nguồn — bản dịch gốc có, cần bổ sung từ bản in)
若諸眾生惡業圓造,入阿鼻獄受無量苦,經無量劫。六根各造,及彼所作兼境、兼根,是人則入八無間獄。身、口、意三,作殺、盜、婬,是人則入十八地獄。三業不兼,中間或為一殺、一盜,是人則入三十六地獄。見見一根單犯一業,是人則入一百八地獄。
Nhược chư chúng sinh ác nghiệp viên tạo, nhập a tỵ ngục thọ vô lượng khổ, kinh vô lượng kiếp. Lục căn các tạo, cập bỉ sở tác kiêm cảnh, kiêm căn, thị nhân tắc nhập bát vô gian ngục. Thân, khẩu, ý tam, tác sát, đạo, dâm, thị nhân tắc nhập thập bát địa ngục. Tam nghiệp bất kiêm, trung gian hoặc vi nhất sát, nhất đạo, thị nhân tắc nhập tam thập lục địa ngục. Kiến kiến nhất căn đan phạm nhất nghiệp, thị nhân tắc nhập nhất bách bát địa ngục.
Nếu các chúng-sinh, sáu căn đồng-tạo nghiệp-dữ, thì vào ngục A-tỳ, chịu khổ vô-cùng trong vô-lượng kiếp; nếu từng mỗi căn tạo ra và nghiệp-dữ đã làm gồm cả cảnh và căn thì người ấy vào 8 ngục Vô-gián. Nếu cả thân, khẩu, ý làm việc sát, đạo, dâm, thì người ấy vào Thập-bát-địa-ngục; không đủ cả ba nghiệp thân, khẩu, ý, làm việc sát, đạo, dâm, thì người ấy vào Thập-bát-địa-ngục; không đủ cả ba nghiệp thân, khẩu, ý, hoặc trong ấy chỉ làm một việc sát, hoặc một việc đạo, thì người ấy vào trong Tam-thập-lục-điạ-ngục; chỉ có một căn, riêng làm một việc, thì người ấy vào Nhất-bách-bát-địa-ngục.
由是眾生別作別造,於世界中入同分地。妄想發生,非本來有。
Do thị chúng sinh biệt tác biệt tạo, ư thế giới trung nhập đồng phân địa. Vọng tưởng phát sinh, phi bản lai hữu.
Do những chúng-sinh ấy riêng gây ra nghiệp, nên vào chỗ đồng-phận trong giới ấy; đó đều do vọng-tưởng phát-sinh ra, không phải bản-lai tự có.
ĐOẠN VI - KHAI-THỊ CÁC DƯ-BÁO
「復次,阿難!是諸眾生,非破律儀,犯菩薩戒,毀佛涅槃,諸餘雜業,歷劫燒然。後還罪畢,受諸鬼形。
“Phục thứ, A-nan! Thị chư chúng sinh, phi phá luật nghi, phạm Bồ-tát giới, hủy Phật Niết-bàn, chư dư tạp nghiệp, lịch kiếp thiêu nhiên. Hậu hoàn tội tất, thọ chư quỷ hình.
"Lại nữa, A-nan, các chúng-sinh đó, nếu không phải gây tội chê-phá luật-nghi, phạm Bồ-tát-giới, hủy-báng Niết-bàn của Phật, mà chỉ phạm những nghiệp phức-tạp khác nhau, thì sau khi bị đốt cháy nhiều kiếp, đền tội hết rồi, thì chịu những hình quỷ.
若於本因貪物為罪,是人罪畢遇物成形,名為怪鬼。貪色為罪,是人罪畢遇風成形,名為魃鬼。貪惑為罪,是人罪畢遇畜成形,名為魅鬼。貪恨為罪,是人罪畢遇蟲成形,名蠱毒鬼。貪憶為罪,是人罪畢遇衰成形,名為癘鬼。貪慠為罪,是人罪畢遇氣成形,名為餓鬼。貪罔為罪,是人罪畢遇幽為形,名為魘鬼。貪明為罪,是人罪畢遇精為形,名魍魎鬼。貪成為罪,是人罪畢遇明為形,名役使鬼。貪黨為罪,是人罪畢遇人為形,名傳送鬼。阿難!是人皆以純情墜落,業火燒乾,上出為鬼。此等皆是自妄想業之所招引。若悟菩提,則妙圓明本無所有。
Nhược ư bản nhân tham vật vi tội, thị nhân tội tất ngộ vật thành hình, danh vi quái quỷ. Tham sắc vi tội, thị nhân tội tất ngộ phong thành hình, danh vi bạt quỷ. Tham hoặc vi tội, thị nhân tội tất ngộ súc thành hình, danh vi mị quỷ. Tham hận vi tội, thị nhân tội tất ngộ trùng thành hình, danh cổ độc quỷ. Tham ức vi tội, thị nhân tội tất ngộ suy thành hình, danh vi lệ quỷ. Tham ngạo vi tội, thị nhân tội tất ngộ khí thành hình, danh vi ngạ quỷ. Tham võng vi tội, thị nhân tội tất ngộ u vi hình, danh vi yểm quỷ. Tham minh vi tội, thị nhân tội tất ngộ tinh vi hình, danh võng lượng quỷ. Tham thành vi tội, thị nhân tội tất ngộ minh vi hình, danh dịch sử quỷ. Tham đảng vi tội, thị nhân tội tất ngộ nhân vi hình, danh truyền tống quỷ. A-nan! Thị nhân giai dĩ thuần tình trụy lạc, nghiệp hỏa thiêu can, thượng xuất vi quỷ. Thử đẳng giai thị tự vọng tưởng nghiệp chi sở chiêu dẫn. Nhược ngộ Bồ-đề, tắc diệu viên minh bản vô sở hữu.
Nếu nơi bản-nhân, do tham vật mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp vật thành-hình gọi là Quái-quỷ; do tham sắc mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp gió thành-hình, gọi là Bạt-quỷ; do tham dối-trá mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp giống súc thành-hình, gọi là Mỵ-quỷ; do tham nóng-giận mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp con sâu thành-hình, gọi là Cổ-độc-quỷ; do tham thù-oán mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp vận-suy kẻ-thù mà thành-hình, gọi là Lệ-quỷ; do tham ngã-mạn mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp khí thành-hình, gọi là Ngạ-quỷ; do tham lừa-gạt mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp u-ẩn thành-hình, gọi là Áp-quỷ; do tham ác-kiến mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp tinh-hoa thành-hình, gọi là Vọng-lượng-quỷ; do tham vu-vạ mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp linh-hiển thành-hình, gọi là Dịch-sử-quỷ; do tham bè-phái che-giấu mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp con người thành-hình, gọi là Truyền-tống-quỷ. A-nan, những người đó đều vì thuần-tình phải đọa-lạc, khi lửa-nghiệp đốt-sạch rồi, thì lên làm quỷ; như thế đều do cái nghiệp vọng-tưởng tự mình chuốc lấy; nếu ngộ được tính Bồ-đề, thì nơi tính Diệu-viên-minh, vốn không có gì.
「復次,阿難!鬼業既盡,則情與想二俱成空。方於世間,與元負人怨對相值。身為畜生,酬其宿債。
“Phục thứ, A-nan! Quỷ nghiệp ký tận, tắc tình dữ tưởng nhị câu thành không. Phương ư thế gian, dữ nguyên phụ nhân oán đối tướng trị. Thân vi súc sinh, thù kỳ túc trái.
Lại nữa, A-nan, khi nghiệp-quỷ đã hết, tình và tưởng cả hai đều thành không, thì mới ở nơi thế-gian, cùng với người mắc nợ cũ, oán-đối gặp nhau; thân làm súc-sinh để trả nợ cũ.
物怪之鬼,物銷報盡生於世間,多為梟類。風魃之鬼,風銷報盡生於世間,多為咎徵一切異類。畜魅之鬼,畜死報盡生於世間,多為狐類。蟲蠱之鬼,蟲滅報盡生於世間,多為毒類。衰癘之鬼,衰窮報盡生於世間,多為蛔類。受氣之鬼,氣銷報盡生於世間,多為食類。綿幽之鬼,幽銷報盡生於世間,多為服類。和精之鬼,和銷報盡生於世間,多為應類。明靈之鬼,明滅報盡生於世間,多為休徵一切諸類。依人之鬼,人亡報盡生於世間,多為循類。
Vật quái chi quỷ, vật tiêu báo tận sinh ư thế gian, đa vi kiêu loại. Phong bạt chi quỷ, phong tiêu báo tận sinh ư thế gian, đa vi cữu trưng nhất thiết dị loại. Súc mị chi quỷ, súc tử báo tận sinh ư thế gian, đa vi hồ loại. Trùng cổ chi quỷ, trùng diệt báo tận sinh ư thế gian, đa vi độc loại. Suy lệ chi quỷ, suy cùng báo tận sinh ư thế gian, đa vi hồi loại. Thọ khí chi quỷ, khí tiêu báo tận sinh ư thế gian, đa vi thực loại. Miên u chi quỷ, u tiêu báo tận sinh ư thế gian, đa vi phục loại. Hòa tinh chi quỷ, hòa tiêu báo tận sinh ư thế gian, đa vi ưng loại. Minh linh chi quỷ, minh diệt báo tận sinh ư thế gian, đa vi hưu trưng nhất thiết chư loại. Y nhân chi quỷ, nhân vong báo tận sinh ư thế gian, đa vi tuần loại.
Quái-quỷ theo vật, vật tiêu báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm loài chim kiêu. Bạt-quỷ theo gió, gió tiêu báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm tất-cả những loài cữu-trưng kỳ-dị. Mỵ quỷ theo súc, súc chết báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm loài hồ. Cổ-quỷ theo sâu, sâu diệt báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm loài có độc. Lệ-quỷ theo vận suy, suy tột báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm loài giun. Ngạ-quỷ theo khí, khí tiêu báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm loài cung-cấp thịt ăn. Áp-quỷ theo u-ẩn, u-ẩn tiêu báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm loài cung-cấp đồ-mặc. Vọng-lượng-quỷ theo tinh-hoa, tinh-hoa tiêu báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm các loài chim mùa. Dịch-sử-quỷ theo sự linh-hiển, linh-hiển diệt báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm tất-cả các loài hưu-trưng. Truyền-tống-quỷ theo người, người chết báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm các loài quấn-quít bên người.
阿難!是等皆以業火乾枯,酬其宿債,傍為畜生,此等亦皆自虛妄業之所招引。若悟菩提,則此妄緣本無所有。
A-nan! Thị đẳng giai dĩ nghiệp hỏa can khô, thù kỳ túc trái, bàng vi súc sinh, thử đẳng diệc giai tự hư vọng nghiệp chi sở chiêu dẫn. Nhược ngộ Bồ-đề, tắc thử vọng duyên bản vô sở hữu.
A-nan, bọn ấy đều do lửa-nghiệp đốt xong, sinh ra loài súc, trả hết nợ cũ; như thế, đều do những nghiệp hư-vọng của tự mình chuốc lấy; nếu ngộ được tính Bồ-đề, thì các vọng-duyên đó vốn không có gì.
如汝所言寶蓮香等及瑠璃王、善星比丘,如是惡業本自發明;非從天降,亦非地出,亦非人與;自妄所招,還自來受。菩提心中,皆為浮虛妄想凝結。
Như nhữ sở ngôn bảo liên hương đẳng cập lưu-ly vương, thiện tinh tỳ-kheo, như thị ác nghiệp bản tự phát minh; phi tùng thiên hàng, diệc phi địa xuất, diệc phi nhân dữ; tự vọng sở chiêu, hoàn tự lai thọ. Bồ-đề tâm trung, giai vi phù hư vọng tưởng ngưng kết.
Như lời ông nói, bọn Bảo-liên-hương, Lưu-ly-vương, Thiện-tinh tỷ-khưu đều vốn tự mình gây ra nghiệp-dữ; nghiệp ấy không phải từ trên trời sa xuống, từ dưới đất phát ra và cũng không phải do người khác đưa tới, mà chính do vọng-tưởng của tự mình gây ra, rồi tự mình phải chịu quả-báo; nơi tâm Bồ-đề, đó chỉ là sự kết-đông của vọng-tưởng giả-dối.
「復次,阿難!從是畜生酬償先債,若彼酬者分越所酬,此等眾生還復為人,返徵其剩。如彼有力兼有福德,則於人中不捨人身,酬還彼力。若無福者,還為畜生償彼餘直。
“Phục thứ, A-nan! Tùng thị súc sinh thù thường tiên trái, nhược bỉ thù giả phân việt sở thù, thử đẳng chúng sinh hoàn phục vi nhân, phản trưng kỳ thặng. Như bỉ hữu lực kiêm hữu phúc đức, tắc ư nhân trung bất xả nhân thân, thù hoàn bỉ lực. Nhược vô phúc giả, hoàn vi súc sinh thường bỉ dư trực.
Lại nửa, A-nan, các súc-sinh ấy đền-trả nợ trước, nếu trong lúc trả nợ, trả quá nợ cũ, thì những chúng-sinh ấy, trở lại làm người, đòi lại chỗ thừa. Nếu bên kia có sức, lại có cả phúc-đức, thì ở trong loài người, không rời-bỏ thân người, mà hoàn lại chỗ thừa đó; còn nếu không phúc-đức, thì phải làm súc-sinh đền lại chỗ thừa.
阿難當知!若用錢物,或役其力,償足自停。如於中間殺彼身命,或食其肉,如是乃至經微塵劫相食相誅,猶如轉輪互為高下,無有休息。除奢摩他及佛出世,不可停寢。
A-nan đương tri! Nhược dụng tiền vật, hoặc dịch kỳ lực, thường túc tự đình. Như ư trung gian sát bỉ thân mệnh, hoặc thực kỳ nhục, như thị nãi chí kinh vi trần kiếp tướng thực tướng tru, do như chuyển luân hỗ vi cao hạ, vô hữu hưu tức. Trừ xa-ma-tha cập Phật xuất thế, bất khả đình tẩm.
A-nan, nên biết, nếu dùng tiền-của hoặc sức người ta, thì đền đủ là xong; còn như trong ấy, có giết thân-mạng, hoặc ăn thịt kẻ khác, như thế, thì đi đến ăn nhau, giết nhau, trải qua nhiều kiếp, số như vi-trần, cũng như bánh xe xoay-vần, thay-đổi bên cao, bên thấp, không có dừng-nghĩ; trừ khi được phép Xa-ma-tha, hoặc gặp Phật ra đời, thì không thể thôi được.
汝今應知,彼梟倫者,酬足復形生人道中,參合頑類;彼咎徵者,酬足復形生人道中,參合愚類;彼狐倫者,酬足復形生人道中,參於佷類;彼毒倫者,酬足復形生人道中,參合庸類;彼蛔倫者,酬足復形生人道中,參合微類;彼食倫者,酬足復形生人道中,參合柔類;彼服倫者,酬足復形生人道中,參合勞類;彼應倫者,酬足復形生人道中,參於文類;彼休徵者,酬足復形生人道中,參合明類;彼諸循倫,酬足復形生人道中,參於達類。
Nhữ kim ưng tri, bỉ kiêu luân giả, thù túc phục hình sinh nhân đạo trung, tham hợp ngoan loại; bỉ cữu trưng giả, thù túc phục hình sinh nhân đạo trung, tham hợp ngu loại; bỉ hồ luân giả, thù túc phục hình sinh nhân đạo trung, tham ư hận loại; bỉ độc luân giả, thù túc phục hình sinh nhân đạo trung, tham hợp dung loại; bỉ hồi luân giả, thù túc phục hình sinh nhân đạo trung, tham hợp vi loại; bỉ thực luân giả, thù túc phục hình sinh nhân đạo trung, tham hợp nhu loại; bỉ phục luân giả, thù túc phục hình sinh nhân đạo trung, tham hợp lao loại; bỉ ưng luân giả, thù túc phục hình sinh nhân đạo trung, tham ư văn loại; bỉ hưu trưng giả, thù túc phục hình sinh nhân đạo trung, tham hợp minh loại; bỉ chư tuần luân, thù túc phục hình sinh nhân đạo trung, tham ư đạt loại.
Nay ông nên biết loài chim kiêu kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng ngoan-cố. Giống cữu-trưng kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng quái-dị. Những loài hồ kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng ngu-dại. Những loài có độc kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng nham-hiểm. Những loài giun kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng hèn-nhát. Những loài cung-cấp thịt-ăn kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng nhu-nhược. Những loài cung-cấp đồ mặc kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng lao-lụy. Những loài chim mùa kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng văn-hoa. Những loài hưu-trưng kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng thông-minh. Những loài quấn-quít theo người kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng thông-đạt.
阿難!是等皆以宿債畢酬,復形人道。皆無始來、業計顛倒,相生相殺。不遇如來,不聞正法,於塵勞中、法爾輪轉,此輩名為可憐愍者!
A-nan! Thị đẳng giai dĩ túc trái tất thù, phục hình nhân đạo. Giai vô thủy lai, nghiệp kế điên đảo, tướng sinh tướng sát. Bất ngộ Như-lai, bất văn chính pháp, ư trần lao trung, pháp nhĩ luân chuyển, thử bối danh vi khả liên mẫn giả!
A-nan, bọn ấy trả hết nợ cũ, trở lại hình người, đều do từ vô-thủy đến nay, điên-đảo gây nghiệp, vay trả thừa thiếu, sinh nhau, giết nhau; nếu không gặp Như-lai, không nghe Chính-pháp, thì ở trong trần-lao, máy-móc xoay-vần mãi mãi; bọn ấy gọi là thật đáng thương-xót.
MỤC V - TU NHÂN RIÊNG-BIỆT, THÀNH QUẢ HƯ-VỌNG
ĐOẠN I - NÊU CHUNG
「阿難!復有從人,不依正覺修三摩地,別修妄念,存想固形;遊於山林人不及處,有十種仙。
“A-nan! Phục hữu tùng nhân, bất y chính giác tu tam-ma địa, biệt tu vọng niệm, tồn tưởng cố hình; du ư sơn lâm nhân bất cập xứ, hữu thập chủng tiên.
"A-nan, lại có chúng-sinh từ loài người, không nương theo Chính-giác tu phép Tam-ma-đề, lại riêng tu theo vọng-niệm, để tâm củng-cố hình-hài, vào trong rừng núi, những chỗ người ta không đến được, thành mười thứ Tiên.
ĐOẠN II - RIÊNG-THÀNH MƯỜI THỨ TIÊN
阿難!彼諸眾生,堅固服餌而不休息,食道圓成,名地行仙。堅固草木而不休息,藥道圓成,名飛行仙。
A-nan! Bỉ chư chúng sinh, kiên cố phục nhử nhi bất hưu tức, thực đạo viên thành, danh địa hành tiên. Kiên cố thảo mộc nhi bất hưu tức, dược đạo viên thành, danh phi hành tiên.
"A-nan, các chúng-sinh kia, kiên-cố dùng đồ-bổ mà không dừng-nghỉ, khi đạo-ăn được thành-tựu, thì gọi là Địa-hành-tiên. Kiên-cố dùng cỏ-cây mà không dừng nghỉ, khi đạo-thuốc được thành-tựu, thì gọi là Phi-hành-tiên.
堅固金石而不休息,化道圓成,名遊行仙。
Kiên cố kim thạch nhi bất hưu tức, hóa đạo viên thành, danh du hành tiên.
Kiên-cố dùng kim-thạch mà không dừng-nghỉ, khi đạo hóa-chất được thành-tựu, thì gọi là Du-hành-tiên.
堅固動止而不休息,氣精圓成,名空行仙。
Kiên cố động chỉ nhi bất hưu tức, khí tinh viên thành, danh không hành tiên.
Kiên-cố làm những động-tác mà không dừng-nghỉ, khi khí-tinh được thành-tựu, thì gọi là Không-hành-tiên.
堅固津液而不休息,潤德圓成,名天行仙。
Kiên cố tân dịch nhi bất hưu tức, nhuận đức viên thành, danh thiên hành tiên.
Kiên-cố luyện nước-bọt mà không dừng-nghỉ, khi nhuận-đức được thành-tựu, thì gọi là Thiên-hành-tiên.
堅固精色而不休息,吸粹圓成,名通行仙。
Kiên cố tinh sắc nhi bất hưu tức, hấp túy viên thành, danh thông hành tiên.
Kiên-cố hấp-thụ tinh-hoa mà không dừng-nghỉ, khi hấp-thụ được thành-tựu, thì gọi là Thông-hành-tiên.
堅固呪禁而不休息,術法圓成,名道行仙。
Kiên cố chú cấm nhi bất hưu tức, thuật pháp viên thành, danh đạo hành tiên.
Kiên-cố làm thuật phù-chú mà không ngừng-nghỉ, khi thuật-pháp được thành-tựu, thì gọi là Đạo-hành-tiên.
堅固思念而不休息,思憶圓成,名照行仙。
Kiên cố tư niệm nhi bất hưu tức, tư ức viên thành, danh chiếu hành tiên.
Kiên-cố chuyên-chú tâm-niệm mà không dừng-nghỉ, khi chuyên-niệm được thành-tựu, thì gọi là Chiếu-hành-tiên.
堅固交遘而不休息,感應圓成,名精行仙。
Kiên cố giao cấu nhi bất hưu tức, cảm ưng viên thành, danh tinh hành tiên.
Kiên-cố về thủy hỏa giao-cấu mà không dừng-nghỉ, khi cảm-ứng được thành-tựu, thì gọi là Tinh-hành-tiên.
堅固變化而不休息,覺悟圓成,名絕行仙。
Kiên cố biến hóa nhi bất hưu tức, giác ngộ viên thành, danh tuyệt hành tiên.
Kiên-cố tập-luyện biến-hóa mà không dừng-nghỉ, khi giác-ngộ được thành-tựu, thì gọi là Tuyệt-hành-tiên.
ĐOẠN III - TỔNG-KẾT VỀ ĐẠO-TIÊN
阿難!是等皆於人中鍊心,不循正覺,別得生理,壽千萬歲,休止深山、或大海島,絕於人境。斯亦輪迴妄想流轉。不修三昧,報盡還來!散入諸趣。
A-nan! Thị đẳng giai ư nhân trung luyện tâm, bất tuần chính giác, biệt đắc sinh lý, thọ thiên vạn tuế, hưu chỉ thâm sơn, hoặc đại hải đảo, tuyệt ư nhân cảnh. Tư diệc luân hồi vọng tưởng lưu chuyển. Bất tu tam-muội, báo tận hoàn lai! Tán nhập chư thú.
"A-nan, bọn ấy đều ở trong loài người mà luyện tâm, tuy không tu Chính-giác, nhưng riêng được lẽ sống, thọ ngàn vạn tuổi, nghỉ ở trong núi sâu hoặc trên đảo giữa bể cả, cách-tuyệt chỗ người ở; đó cũng là vọng-tưởng luân-hồi lưu-chuyển. Nếu không tu phép Tam-muội, thì khi quả-báo hết rồi, trở lại tản vào trong lục-đạo.
MỤC VI - CÁC CÕI-TRỜI SAI KHÁC
ĐOẠN I - DỤC-GIỚI
「阿難!諸世間人不求常住,未能捨諸妻妾恩愛,於邪婬中心不流逸,澄瑩生明,命終之後隣於日月,如是一類名四天王天。
“A-nan! Chư thế gian nhân bất cầu thường trụ, vị năng xả chư thê thiếp ân ái, ư tà dâm trung tâm bất lưu dật, trừng oánh sinh minh, mệnh chung chi hậu lân ư nhật nguyệt, như thị nhất loại danh tứ thiên vương thiên.
"A-nan, các người thế-gian, không cầu-đạo thường-trụ, chưa có thể rời-bỏ được sự ân-ái với vợ mình, nhưng tâm không buông-lung trong việc tà-dâm, do tâm đứng-lặng sinh ra sáng-suốt, sau khi mệnh-chung ở gần với mặt trời, mặt trăng; một loài như thế, gọi là Tứ-Thiên-Vương-Thiên.
於己妻房婬愛微薄,於淨居時不得全味,命終之後超日月明,居人間頂,如是一類名忉利天。
Ư kỷ thê phòng dâm ái vi bạc, ư tịnh cư thời bất đắc toàn vị, mệnh chung chi hậu siêu nhật nguyệt minh, cư nhân gian đỉnh, như thị nhất loại danh đao lợi thiên.
Đối với vợ mình, dâm-ái ít-ỏi, trong lúc tịnh-cư, không được toàn-vị, thì sau khi mệnh-chung, vượt ánh-sáng mặt trời, mặt trăng, ở trên chóp nhân-gian; một loài như thế, gọi là Đao-lợi-thiên.
逢欲暫交,去無思憶,於人間世動少靜多,命終之後,於虛空中朗然安住;日月光明上照不及,是諸人等自有光明,如是一類名須焰摩天。
Phùng dục tạm giao, khứ vô tư ức, ư nhân gian thế động thiểu tĩnh đa, mệnh chung chi hậu, ư hư không trung lãng nhiên an trụ; nhật nguyệt quang minh thượng chiếu bất cập, thị chư nhân đẳng tự hữu quang minh, như thị nhất loại danh tu diễm ma thiên.
Gặp cảnh-dục tạm theo, bỏ đi không nhớ-nghĩ, ở trong nhân-gian, động ít, tĩnh nhiều, thì sau khi mệnh-chung, sáng-rỡ ở yên trong cõi hư-không, ánh-sáng mặt trời, mặt trăng không soi đến được; và những người ấy tự mình có ánh-sáng; một loài như thế, gọi là Tu-diệm-ma-thiên.
一切時靜,有應觸來未能違戾,命終之後上昇精微;不接下界諸人天境,乃至劫壞三災不及,如是一類名兜率陀天。
Nhất thiết thời tĩnh, hữu ưng xúc lai vị năng vi lệ, mệnh chung chi hậu thượng thăng tinh vi; bất tiếp hạ giới chư nhân thiên cảnh, nãi chí kiếp hoại tam tai bất cập, như thị nhất loại danh đâu suất đà thiên.
Lúc nào cũng tĩnh, nhưng khi có cảm-xúc đến bên mình, chưa chống-đối được, thì sau khi mệnh-chung, lên trên chỗ tinh-vi, không tiếp với những cảnh nhân-thiên cõi dưới, cho đến gặp hoại-kiếp, tam-tai cũng không đến nơi; một loài như thế, gọi là Đâu-suất-đà-thiên.
我無欲心應汝行事,於橫陳時味如嚼蠟,命終之後生越化地,如是一類名樂變化天。
Ngã vô dục tâm ưng nhữ hành sự, ư hoạnh trần thời vị như tước lạp, mệnh chung chi hậu sinh việt hóa địa, như thị nhất loại danh lạc biến hóa thiên.
Chính mình không có tâm dâm-dục, chỉ đáp-ứng với người khác mà làm, trong lúc phô-bày, vô-vị như ăn sáp, thì sau khi mệnh-chung, vượt lên sinh vào cảnh biến-hóa; một loài như thế, gọi là Lạc-biến-hóa-thiên.
無世間心同世行事,於行事交了然超越,命終之後,遍能出超化無化境,如是一類名他化自在天。
Vô thế gian tâm đồng thế hành sự, ư hành sự giao liễu nhiên siêu việt, mệnh chung chi hậu, biến năng xuất siêu hóa vô hóa cảnh, như thị nhất loại danh tha hóa tự tại thiên.
Không có tâm thế-gian, chỉ đồng với thế-gian mà làm việc ngũ-dục; trong lúc làm việc ấy, rõ-ràng là siêu-thoát, thì sau khi mệnh-chung, vượt trên tất-cả những cảnh biến-hóa và không biến-hóa; một loài như thế, gọi là Tha-hóa-tự-tại-thiên.
阿難!如是六天,形雖出動,心跡尚交。自此已還,名為欲界。
A-nan! Như thị lục thiên, hình tuy xuất động, tâm tích thượng giao. Tự thử dĩ hoàn, danh vi dục giới.
A-nan, sáu cõi-trời như thế, hình-thức tuy khỏi động, nhưng tâm-tính còn dính-dấp; từ các cõi ấy trở xuống, gọi là Dục-giới.
大佛頂萬行首楞嚴經卷第八
Đại Phật đỉnh vạn hạnh Thủ-lăng-nghiêm kinh quyển đệ bát
(Hết Quyển Tám — bản dịch không có dòng kết quyển tương ứng)
Hết Quyển Tám