Quyển Bốn

Ghi chú: (1) Việt văn giữ nguyên theo ebook nguồn kể cả lỗi chính tả gốc; chỉ chuẩn hoá glyph font cũ. (2) Quyển 4 tiếp cấu trúc từ MỤC VII (ông Mãn-từ trình nghi) đến MỤC XII (đánh chuông thật-nghiệm tính-thường). (3) Toàn bộ Hán văn các khối ghép lại đã kiểm chứng khớp 100% từng chữ với nguyên bản CBETA quyển 4.

QUYỂN BỐN

MỤC VII - CHỈ RÕ SỰ TIẾP-TỤC GIẢ-DỐI SINH RA VÀ CÁC "ĐẠI" KHÔNG NGĂN-NGẠI LẪN NHAU.

ĐOẠN I - ÔNG MÃN-TỪ KHEN-NGỢI PHẬT VÀ TRÌNH-BÀY CHỖ NGHI.

大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經卷第四唐天竺沙門般剌蜜帝譯

Đại Phật đỉnh Như-lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ-tát vạn hạnh Thủ-lăng-nghiêm kinh quyển đệ tứ Đường Thiên-trúc sa môn Bát-lạt-mật-đế dịch

(Đề quyển — bản dịch không lặp lại đề-mục ở đầu quyển)

爾時,富樓那彌多羅尼子在大眾中即從座起,偏袒右肩,右膝著地,合掌恭敬而白佛言:「大威德世尊!善為眾生敷演如來第一義諦。世尊常推說法人中我為第一,今聞如來微妙法音,猶如聾人逾百步外聆於蚊蚋,本所不見,何況得聞?佛雖宣明令我除惑,今猶未詳斯義究竟無疑惑地。

Nhĩ thời, Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử tại đại chúng trung tức tùng tòa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa, hợp chưởng cung kính nhi bạch Phật ngôn: “Đại uy đức Thế-tôn! Thiện vi chúng sinh phu diễn Như-lai đệ nhất nghĩa đế. Thế-tôn thường suy thuyết pháp nhân trung ngã vi đệ nhất, kim văn Như-lai vi diệu pháp âm, do như lung nhân du bách bộ ngoại linh ư văn nhuế, bản sở bất kiến, hà huống đắc văn? Phật tuy tuyên minh lệnh ngã trừ hoặc, kim do vị tường tư nghĩa cứu cánh vô nghi hoặc địa.

Khi bấy giờ, ông Phú-lâu-na-di-đa-la-ni-tử ở trong đại-chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo bên phải, đầu gối bên phải chấm đất, chấp tay cung-kính mà bạch Phật rằng: Đức Thế-tôn có oai-đức lớn, khéo vì chúng-sinh diễn-bày Đệ-nhất-nghĩa-đế của Như-lai. Đức Thế-tôn thường cho rằng trong những người thuyết-pháp, tôi là bậc nhất, song nay tôi nghe pháp-âm nhiệm-mầu của Như-lai, cũng như người điếc, cách xa trăm bước, nghe tiếng muỗi mạt, vốn đã không thấy, huống nữa lại nghe. Tuy Phật chỉ rõ, khiến cho tôi trừ được lầm-lạc, nhưng tôi chưa rõ chỗ rốt-ráo, không còn nghi-hoặc của nghĩa ấy.

世尊!如阿難輩,雖則開悟,習漏未除;我等會中登無漏者,雖盡諸漏,今聞如來所說法音,尚紆疑悔。

Thế-tôn! Như A-nan bối, tuy tắc khai ngộ, tập lậu vị trừ; ngã đẳng hội trung đăng vô lậu giả, tuy tận chư lậu, kim văn Như-lai sở thuyết pháp âm, thượng hu nghi hối.

Bạch Thế-tôn, như bọn ông A-nan, tuy được khai-ngộ, nhưng chưa trừ hết tập-khí hữu-lậu, còn bọn chúng tôi là những người đã lên đến bậc vô-lậu trong Hội nầy, thì tuy đã hết các lậu, nhưng nay nghe pháp-âm của Như-lai vừa dạy, còn mắc phải những điều nghi-hối. ---o0o---

ĐOẠN II - THIẾT-LẬP HAI ĐIỀU NẠN-HỎI

世尊!若復世間一切根、塵、陰、處、界等皆如來藏清淨本然,云何忽生山河大地諸有為相,次第遷流,終而復始?

Thế-tôn! Nhược phục thế gian nhất thiết căn, trần, âm, xứ, giới đẳng giai Như-lai tàng thanh tịnh bản nhiên, vân hà hốt sinh sơn hà đại địa chư hữu vi tướng, thứ đệ thiên lưu, chung nhi phục thủy?

"Bạch Thế-tôn, nếu như hết thảy các thứ căn, trần, ấm, xứ, giới, vân vân... trong thế-gian, đều là tính thanh-tịnh bản-nhiên Như-lai-tạng, thì làm sao bỗng-nhiên lại sinh ra các tướng hữu-vi như núi, sông, đất liền, thứ lớp dời-đổi, trước sau quanh-lộn.

又如來說地、水、火、風本性圓融、周遍法界,湛然常住,世尊!若地性遍,云何容水?水性周遍,火則不生。復云何明水、火二性俱遍虛空不相𣣋滅?世尊!地性障礙,空性虛通,云何二俱周遍法界?而我不知是義攸往,唯願如來宣流大慈,開我迷雲,及諸大眾!」作是語已,五體投地,欽渴如來無上慈誨。

Hựu Như-lai thuyết địa, thủy, hỏa, phong bản tính viên dung, chu biến pháp giới, trạm nhiên thường trụ, Thế-tôn! Nhược địa tính biến, vân hà dung thủy? Thủy tính chu biến, hỏa tắc bất sinh. Phục vân hà minh thủy, hỏa nhị tính câu biến hư không bất tướng lăng diệt? Thế-tôn! Địa tính chướng ngại, không tính hư thông, vân hà nhị câu chu biến pháp giới? Nhi ngã bất tri thị nghĩa du vãng, duy nguyện Như-lai tuyên lưu đại từ, khai ngã mê vân, cập chư đại chúng!” Tác thị ngữ dĩ, ngũ thể đầu địa, khâm khát Như-lai vô thượng từ hối.

Lại đức Như-lai nói bốn món đại địa, thủy, hỏa, phong, bản-tính viên-mãn dung-hòa, cùng khắp pháp-giới, vẳng-lặng thường-trụ. Bạch Thế-tôn, nếu tính địa-đại cùng khắp, sao lại dung được thủy-đại; nếu tính thủy-đại cùng khắp thì hỏa-đại không thể phát-sinh; làm sao lại phát-minh hai tính thủy-đại và hỏa-đại đều cùng khắp hư-không, không diệt lẫn nhau? Bạch Thế-tôn, tính địa-đại là ngăn-ngại, tính hư-không là rỗng-suốt, làm sao hai đại ấy lại đều cùng khắp pháp-giới. Tôi nay không biết nghĩa ấy do đâu, xin Phật phát lòng đại-từ, vén mây mê-lầm cho tôi và trong đại-chúng." Ông Mãn-từ nói lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, kính mong lời dạy từ-bi vô-thượng của đức Như-lai.

ĐOẠN III - PHẬT HỨA CHỈ-BÀY THẮNG-NGHĨA, BẢO TRONG CHÚNG LẮNG-NGHE.

爾時,世尊告富樓那及諸會中漏盡無學諸阿羅漢:「如來今日普為此會宣勝義中真勝義性,令汝會中定性聲聞,及諸一切未得二空迴向上乘阿羅漢等,皆獲一乘寂滅場地、真阿練若正修行處。汝今諦聽!當為汝說。」

Nhĩ thời, Thế-tôn cáo Phú-lâu-na cập chư hội trung lậu tận vô học chư A-la-hán: “Như-lai kim nhật phổ vi thử hội tuyên thắng nghĩa trung chân thắng nghĩa tính, lệnh nhữ hội trung định tính thanh văn, cập chư nhất thiết vị đắc nhị không hồi hướng thượng thừa A-la-hán đẳng, giai hoạch nhất thừa tịch diệt tràng địa, chân a-luyện-nhã chính tu hành xứ. Nhữ kim đế thính! Đương vi nhữ thuyết.”

Khi bấy giờ, đức Thế-tôn bảo ông Phú-lâu-na và các vị A-la-hán lậu-tận vô-học trong Hội rằng : "Ngày nay Như-lai khắp vì trong Hội nầy chỉ-bày tính chân-thắng-nghĩa trong thắng-nghĩa, khiến cho ở trong Hội nầy, những hàng định-tính Thanh-Văn và hết thảy các bậc A-la-hán, chưa được hai phép nhân-không pháp-không, phát-tâm hướng về thượng-thừa, đều được chỗ tu-hành chân-chính, thiết-thực không xao-động của cảnh-giới tịch-diệt nhất-thừa. Ông hãy nghe kỹ, tôi sẽ vì ông mà nói".

富樓那等欽佛法音,默然承聽。

Phú-lâu-na đẳng khâm Phật pháp âm, mặc nhiên thừa thính.

Các ông Phú-lâu-na kính vâng pháp-âm của Phật, lẳng-lặng vâng nghe.

ĐOẠN IV - NẾU BẢN-TÍNH ĐỂ CHỈ RÕ CĂN-NGUYÊN HƯ-VỌNG

佛言:「富樓那!如汝所言『清淨本然,云何忽生山河大地?』汝常不聞如來宣說性覺妙明本覺明妙?」

Phật ngôn: “Phú-lâu-na! Như nhữ sở ngôn ‘thanh tịnh bản nhiên, vân hà hốt sinh sơn hà đại địa?’ Nhữ thường bất văn Như-lai tuyên thuyết tính giác diệu minh bản giác minh diệu?”

Phật dạy: "Ông Phú-lâu-na, như ông vừa nói : Đã là bản-nhiên thanh-tịnh, làm sao bỗng-nhiên lại sinh ra có núi sông, đất liền. Vậy ông không thường nghe Như-lai chỉ-dạy: Tính-giác là diệu-minh, bản-giác là minh-diệu, hay sao?"

富樓那言:「唯然,世尊!我常聞佛宣說斯義。」

Phú-lâu-na ngôn: “Duy nhiên, Thế-tôn! Ngã thường văn Phật tuyên thuyết tư nghĩa.”

Ông Phú-lâu-na bạch: "Thưa Thế-tôn, vâng, tôi thường nghe Phật chỉ-dạy nghĩa ấy."

佛言:「汝稱覺明,為復性明稱名為覺?為覺不明稱為明覺?」

Phật ngôn: “Nhữ xưng giác minh, vi phục tính minh xưng danh vi giác? Vi giác bất minh xưng vi minh giác?”

Phật bảo: "Ông bảo cái giác là minh, lại là vì bản-tính nó là minh, nên gọi nó là giác, hay là vì giác được cái không minh, mà gọi là minh-giác?"

富樓那言:「若此不明名為覺者,則無所明。」

Phú-lâu-na ngôn: “Nhược thử bất minh danh vi giác giả, tắc vô sở minh.”

Ông Phú-lâu-na bạch: "Nếu cái không-minh đó mà gọi là giác, thì nó không minh được cái gì."

佛言:「若無所明,則無明覺。有所非覺,無所非明,無明又非覺湛明性。性覺必明,妄為明覺。覺非所明,因明立所,所既妄立,生汝妄能,

Phật ngôn: “Nhược vô sở minh, tắc vô minh giác. Hữu sở phi giác, vô sở phi minh, vô minh hựu phi giác trạm minh tính. Tính giác tất minh, vọng vi minh giác. Giác phi sở minh, nhân minh lập sở, sở ký vọng lập, sinh nhữ vọng năng,

Phật dạy: "Nếu không có sở-minh là không có minh-giác, thì có sở không phải là giác, mà không sở, lại không phải là minh; và không minh, thì lại không phải là giác-tính trạm-minh. Vậy tính-giác chắc là minh, do vọng-tưởng mà làm ra có minh-giác. Giác không có gì là sở-minh, nhân có minh mà lập ra thành sở; đã giả-dối lập ra có sở, mới sinh ra cái năng hư-vọng của các ông".

ĐOẠN V - CHỈ TƯỚNG NGUYÊN-NHÂN CỦA THẾ-GIỚI SỰ-VẬT, HƯ-KHÔNG VÀ CHÚNG-SINH

無同異中熾然成異。異彼所異,因異立同,同異發明,因此復立無同無異。如是擾亂相待生勞,勞久發塵自相渾濁,由是引起塵勞煩惱。起為世界,靜成虛空,虛空為同,世界為異。

Vô đồng dị trung sí nhiên thành dị. Dị bỉ sở dị, nhân dị lập đồng, đồng dị phát minh, nhân thử phục lập vô đồng vô dị. Như thị nhiễu loạn tướng đãi sinh lao, lao cửu phát trần tự tướng hồn trọc, do thị dẫn khởi trần lao phiền não. Khởi vi thế giới, tĩnh thành hư không, hư không vi đồng, thế giới vi dị.

"Trong tính không đồng, không khác, nổi dậy thành ra có khác; khác với cái khác kia, thì nhân cái khác đó, mà lập-thành cái đồng. Phát-minh cái đồng, cái khác rồi, thì nhân đó, mà lập ra cái không đồng, không khác. Rối-loạn như vậy, đối-dãi với nhau sinh ra lao-lự; lao-lự mãi phát ra trần-tướng, tự vẩn-đục lẫn nhau; do đó, đưa đến những trần-lao phiền-não. Nổi lên thì thành thế-giới, lặng xuống thì thành hư-không; hư-không là đồng, thế-giới là khác; cái không đồng, không khác kia, thật là pháp hữu-vi.

ĐOẠN VI - CHỈ BA TƯỚNG KẾT-QUẢ TIẾP-TỤC

彼無同異真有為法,覺明、空昧相待成搖,故有風輪執持世界。因空生搖,堅明立礙,彼金寶者明覺立堅,故有金輪保持國土。堅覺寶成,搖明風出,風、金相摩故有火光為變化性;寶明生潤,火光上蒸,故有水輪含十方界。火騰、水降,交發立堅,濕為巨海,乾為洲潬。以是義故,彼大海中火光常起;彼洲潬中江河常注。水勢劣火,結為高山;是故山石擊則成炎,融則成水。土勢劣水,抽為草木;是故林藪遇燒成土,因絞成水,

Bỉ vô đồng dị chân hữu vi pháp, giác minh, không muội tướng đãi thành dao, cố hữu phong luân chấp trì thế giới. Nhân không sinh dao, kiên minh lập ngại, bỉ kim bảo giả minh giác lập kiên, cố hữu kim luân bảo trì quốc độ. Kiên giác bảo thành, dao minh phong xuất, phong, kim tướng ma cố hữu hỏa quang vi biến hóa tính; bảo minh sinh nhuận, hỏa quang thượng chưng, cố hữu thủy luân hàm thập phương giới. Hỏa đằng, thủy hàng, giao phát lập kiên, thấp vi cự hải, can vi châu than. Dĩ thị nghĩa cố, bỉ đại hải trung hỏa quang thường khởi; bỉ châu than trung giang hà thường chú. Thủy thế liệt hỏa, kết vi cao sơn; thị cố sơn thạch kích tắc thành viêm, dung tắc thành thủy. Thổ thế liệt thủy, trừu vi thảo mộc; thị cố lâm tẩu ngộ thiêu thành thổ, nhân giảo thành thủy,

"Cái giác là sáng-suốt, cái hư-không thì không hay-biết, hai cái đối-đãi với nhau, thành có lay-động, cho nên có phong-luân nắm-giữ thế-giới. Nhân cái hư-không, mà sinh ra có lay-động, phát-minh tính cứng, thì thành có ngăn-ngại; các loại kim-bảo đều do minh-giác lập ra tính cứng, cho nên có kim-luân nắm-giữ cõi nước. Biết cái cứng, thì thành có kim-bảo, rõ cái lay-động, thì phong-đại phát ra; phong-đại và kim-bảo cọ-xát nhau, cho nên có hỏa-đại làm tính biến-hóa. Ngọn lửa xông lên, kim-bảo sinh ra tính ướt, cho nên có thủy-luân trùm khắp các cõi mười phương. Lửa bốc lên, nước sa xuống, giao nhau phát-hiện, mà lập-thành tính cứng; chỗ ướt là bể lớn, chỗ khô là gò nổi; do cái nghĩa ấy, trong bể lớn kia, hơi nóng thường bốc lên; trong gò nổi kia, sông ngòi thường chảy xuống. Thế nước kém thế lửa, thì kết thành núi cao, vậy nên đá núi, đập thì có tia lửa, nấu thì chảy ra nước. Thế đất kém thế nước, rút ra thành cỏ cây, vậy nên rừng-rú bị đốt thì thành đất, vắt ra thì có nước.

交妄發生,遞相為種;以是因緣世界相續。

Giao vọng phát sinh, đệ tướng vi chủng; dĩ thị nhân duyên thế giới tương tục.

Vọng-tưởng giao-xen phát-sinh, xoay-vần làm chủng-tử cho nhau; do nhân-duyên ấy mà thế-giới tiếp-tục.

「復次,富樓那,明妄非他,覺明為咎!所妄既立,明理不踰。以是因緣,聽不出聲,見不超色;色、香、味、觸六妄成就,由是分開見、覺、聞、知。

“Phục thứ, Phú-lâu-na, minh vọng phi tha, giác minh vi cữu! Sở vọng ký lập, minh lý bất du. Dĩ thị nhân duyên, thính bất xuất thanh, kiến bất siêu sắc; sắc, hương, vị, xúc lục vọng thành tựu, do thị phân khai kiến, giác, văn, tri.

Lại nữa, Phú-lâu-na, vọng-tưởng chẳng phải gì khác, do tính giác-minh hóa ra lầm-lỗi; cái sở-minh hư-vọng đã lập, thì phạm-vi của cái năng-minh không vượt khỏi được. Do nhân-duyên ấy, nghe không ra ngoài tiếng, thấy không vượt khỏi sắc, sáu cái vọng: Sắc, hương, vị, xúc vân vân..., đã thành lập, thì do đó, chia ra có thấy, nghe, hay, biết.

同業相纏,合離成化,見明色發,明見想成。異見成憎,同想成愛,流愛為種,納想為胎。交遘發生,吸引同業,故有因緣生羯囉藍、遏蒱曇等。胎、卵、濕、化,隨其所應。卵唯想生,胎因情有,濕以合感,化以離應。情、想、合、離更相變易,所有受業逐其飛沈,以是因緣眾生相續。

Đồng nghiệp tướng triền, hợp ly thành hóa, kiến minh sắc phát, minh kiến tưởng thành. Dị kiến thành tăng, đồng tưởng thành ái, lưu ái vi chủng, nạp tưởng vi thai. Giao cấu phát sinh, hấp dẫn đồng nghiệp, cố hữu nhân duyên sinh yết-la-lam, át-bồ-đàm đẳng. Thai, noãn, thấp, hóa, tùy kỳ sở ưng. Noãn duy tưởng sinh, thai nhân tình hữu, thấp dĩ hợp cảm, hóa dĩ ly ưng. Tình, tưởng, hợp, ly cánh tướng biến dịch, sở hữu thọ nghiệp trục kỳ phi trầm, dĩ thị nhân duyên chúng sinh tương tục.

Đồng-nghiệp ràng-buộc lẫn nhau mà hợp, mà ly, mà thành, mà hóa. Cái thấy phát-minh, thì các sắc phát ra; nhận rõ nơi sự thấy, thì thành có tư-tưởng; rồi ý-kiến khác nhau, thì thành ra ghét, tưởng-niệm đồng nhau, thì thành ra yêu. Lan cái yêu ra, thành hạt giống, thu-nạp tưởng-niệm, thành ra cái thai, giao-xen phát-sinh, hấp-dẫn bọn đồng-nghiệp, nên có nhân-duyên sinh ra yết-la-lam, át-bồ-đàm, vân vân... Thai-sinh, noãn-sinh, thấp-sinh hay hóa-sinh là tùy phần sở-ưng: Noãn chỉ do tưởng-niệm mà sinh, thai thì nhân ái-tình mà có, thấp-sinh thì cơ-cảm mà hợp lại, còn hóa-sinh thì phân-ly mà ứng-hiện. Khi tình, khi tưởng, khi hợp, khi ly, thay-đổi lẫn nhau, nên các loài chịu nghiệp-báo cũng theo đó mà lên xuống; do nhân-duyên ấy, chúng-sinh tiếp-tục.

「富樓那!想愛同結,愛不能離;則諸世間父母子孫相生不斷;是等則以欲貪為本。貪愛同滋,貪不能止,則諸世間卵、化、濕、胎,隨力強弱遞相吞食;是等則以殺貪為本。以人食羊,羊死為人,人死為羊,如是乃至十生之類,死死生生互來相噉,惡業俱生窮未來際;是等則以盜貪為本。汝負我命,我還汝債,以是因緣,經百千劫常在生死。汝愛我心,我憐汝色,以是因緣,經百千劫常在纏縛。唯殺、盜、婬三為根本,以是因緣業果相續。

“Phú-lâu-na! Tưởng ái đồng kết, ái bất năng ly; tắc chư thế gian phụ mẫu tử tôn tướng sinh bất đoạn; thị đẳng tắc dĩ dục tham vi bản. Tham ái đồng tư, tham bất năng chỉ, tắc chư thế gian noãn, hóa, thấp, thai, tùy lực cường nhược đệ tướng thôn thực; thị đẳng tắc dĩ sát tham vi bản. Dĩ nhân thực dương, dương tử vi nhân, nhân tử vi dương, như thị nãi chí thập sinh chi loại, tử tử sinh sinh hỗ lai tướng đạm, ác nghiệp câu sinh cùng vị lai tế; thị đẳng tắc dĩ đạo tham vi bản. Nhữ phụ ngã mệnh, ngã hoàn nhữ trái, dĩ thị nhân duyên, kinh bách thiên kiếp thường tại sinh tử. Nhữ ái ngã tâm, ngã liên nhữ sắc, dĩ thị nhân duyên, kinh bách thiên kiếp thường tại triền phược. Duy sát, đạo, dâm tam vi căn bản, dĩ thị nhân duyên nghiệp quả tương tục.

Phú-lâu-na, tư-tưởng thương-yêu ràng buộc lẫn nhau, yêu mãi không rời, thì những cha mẹ con cháu trong thế-gian sinh nhau không ngớt, bọn nầy thì lấy dục-tham làm gốc. Lòng tham, lòng yêu giúp nhau tăng-trưởng, tham mãi không thôi, thì các loài thai-sinh, noãn-sinh, thấp-sinh, hóa-sinh trong thế-gian, tùy sức mạnh-yếu, ăn-nuốt lẫn nhau; bọn nầy thì lấy sát-tham làm gốc. Lấy thân người ăn con dê, dê chết làm người, người chết làm dê, như vậy cho đến mười loài chúng-sinh chết sống, sống chết, ăn-nuốt lẫn nhau, nghiệp dữ cùng sinh ra tột đời vị-lai, bọn nầy thì lấy đạo-tham làm gốc. Người nầy mắc nợ thân-mệnh người kia, người kia trả nợ cũ cho người nầy; do nhân-duyên ấy, trải qua trăm nghìn kiếp, thường ở trong đường sống chết. Người nầy yêu cái tâm người kia, người kia ưa cái sắc người nầy, do nhân-duyên ấy, trải qua trăm nghìn kiếp, thường ở trong vòng ràng-buộc. Duy ba món sát, đạo, dâm làm gốc và vì nhân-duyên đó, nghiệp-quả tiếp-tục.

富樓那!如是三種顛倒相續,皆是覺明明了知性,因了發相,從妄見生。山河大地諸有為相,次第遷流;因此虛妄,終而復始。」

Phú-lâu-na! Như thị tam chủng điên đảo tương tục, giai thị giác minh minh liễu tri tính, nhân liễu phát tướng, tùng vọng kiến sinh. Sơn hà đại địa chư hữu vi tướng, thứ đệ thiên lưu; nhân thử hư vọng, chung nhi phục thủy.”

Phú-lâu-na, ba thứ tiếp-tục điên-đảo ấy, đều do tính sáng-suốt rõ-biết của giác-minh, nhân rõ-biết phát ra có tướng, theo vọng-tưởng mà kiến-chấp sinh ra, các tướng hữu-vi núi sông, đất liền thứ lớp dời-đổi, đều nhân cái hư-vọng đó, mà xoay-vần sau trước".

ĐOẠN VII - CHỈ RÕ GIÁC KHÔNG SINH MÊ

富樓那言:「若此妙覺本妙覺明與如來心不增不減,無狀忽生山河大地諸有為相;如來今得妙空明覺,山河大地有為習漏何當復生?」

Phú-lâu-na ngôn: “Nhược thử diệu giác bản diệu giác minh dữ Như-lai tâm bất tăng bất giảm, vô trạng hốt sinh sơn hà đại địa chư hữu vi tướng; Như-lai kim đắc diệu không minh giác, sơn hà đại địa hữu vi tập lậu hà đương phục sinh?”

Ông Phú-lâu-na bạch: "Nếu cái diệu-giác đó, bản-tính là diệu-minh, cùng với tâm Như-lai, không thêm không bớt, mà không cớ gì bỗng-nhiên lại sinh ra các tướng hữu-vi núi sông, đất liền; vậy Như-lai hiện nay đã chứng được bản-giác diệu-minh, không có phân-biệt, thì đến lúc nào lại sinh ra núi sông, đất liền và các tập-lậu hữu-vi?"

佛告富樓那:「譬如迷人,於一聚落惑南為北,此迷為復因迷而有?因悟所出?」

Phật cáo Phú-lâu-na: “Thí như mê nhân, ư nhất tụ lạc hoặc nam vi bắc, thử mê vi phục nhân mê nhi hữu? Nhân ngộ sở xuất?”

Phật bảo ông Phú-lâu-na: "Ví như người mê, nơi một xóm làng, lầm phương Nam làm phương Bắc, thì cái mê ấy, lại là nhân mê mà có hay nhân ngộ mà ra?"

富樓那言:「如是迷人,亦不因迷又不因悟。何以故?迷本無根,云何因迷?悟非生迷,云何因悟?」

Phú-lâu-na ngôn: “Như thị mê nhân, diệc bất nhân mê hựu bất nhân ngộ. Hà dĩ cố? Mê bản vô căn, vân hà nhân mê? Ngộ phi sinh mê, vân hà nhân ngộ?”

Ông Phú-lâu-na bạch: "Người mê như vậy, cũng không nhân mê, cũng không nhân ngộ. Vì sao? Mê, vốn không có gốc, làm sao lại nhân mê? Còn ngộ, không phải cái sinh ra mê, làm sao lại nhân ngộ?"

佛言:「彼之迷人正在迷時,倐有悟人指示令悟;富樓那!於意云何?此人縱迷,於此聚落更生迷不?」

Phật ngôn: “Bỉ chi mê nhân chính tại mê thời, thúc hữu ngộ nhân chỉ thị lệnh ngộ; Phú-lâu-na! Ư ý vân hà? Thử nhân túng mê, ư thử tụ lạc cánh sinh mê phủ?”

Phật dạy: "Người mê kia, chính trong lúc mê, bỗng có người ngộ chỉ-bày cho được ngộ. Phú-lâu-na, ý ông nghĩ thế nào? Người ấy giải-trừ được cái mê đi, thì đối với xóm làng đó, còn có sanh mê nữa không?

「不也。世尊!」

“Phất dã. Thế-tôn!”

- Thưa Thế-tôn, không.

「富樓那!十方如來,亦復如是。此迷無本,性畢竟空。昔本無迷,似有迷覺,覺迷迷滅,覺不生迷。亦如瞖人見空中花,瞖病若除,花於空滅。忽有愚人,於彼空花所滅空地,待花更生;汝觀是人為愚為慧?」

“Phú-lâu-na! Thập phương Như-lai, diệc phục như thị. Thử mê vô bản, tính tất cánh không. Tích bản vô mê, tự hữu mê giác, giác mê mê diệt, giác bất sinh mê. Diệc như ế nhân kiến không trung hoa, ế bệnh nhược trừ, hoa ư không diệt. Hốt hữu ngu nhân, ư bỉ không hoa sở diệt không địa, đãi hoa cánh sinh; nhữ quán thị nhân vi ngu vi tuệ?”

- Phú-lâu-na, Như-lai mười phương thì cũng như vậy. Cái mê đó không có gốc, tính nó rốt-ráo là rỗng-không; xưa vốn không mê, chỉ hình-như có mê, có giác; giác được cái mê, thì cái mê diệt và giác, không sinh ra mê. Cũng như người lòa thấy hoa-đốm giữa hư-không, nếu trừ được bệnh lòa, thì hoa đốm nơi hư-không diệt mất. Bỗng có người ngu, ở chỗ hư-không mà hoa-đốm kia đã diệt rồi, lại mong đợi hoa-đốm sinh lại. Ông xét người ấy, là ngu hay là trí-tuệ?"

富樓那言:「空元無花,妄見生滅,見花滅空已是顛倒,勅令更出斯實狂癡;云何更名如是狂人為愚為慧?」

Phú-lâu-na ngôn: “Không nguyên vô hoa, vọng kiến sinh diệt, kiến hoa diệt không dĩ thị điên đảo, sắc lệnh cánh xuất tư thực cuồng si; vân hà cánh danh như thị cuồng nhân vi ngu vi tuệ?”

Ông Phú-lâu-na bạch: "Hư-không vốn không có hoa-đốm, vì hư-vọng mà thấy có sinh diệt; thấy hoa-đốm diệt mất nơi hư-không đã là điên-đảo rồi; lại còn muốn bảo nó sinh lại, thì thật là điên-dại; làm sao còn gọi người điên như vậy, là ngu hay là trí-tuệ."

佛言:「如汝所解,云何問言:『諸佛如來妙覺明空,何當更出山河大地?』

Phật ngôn: “Như nhữ sở giải, vân hà vấn ngôn: ‘Chư Phật Như-lai diệu giác minh không, hà đương cánh xuất sơn hà đại địa?’

Phật dạy: "Ông hiểu như vậy, làm sao còn hỏi tính-giác diệu-minh, không có phân-biệt của chư Phật Như-lai, lúc nào lại sinh ra núi sông, đất liền.

又如金鑛雜於精金,其金一純,更不成雜;如木成灰,不重為木;諸佛如來菩提涅槃,亦復如是。

Hựu như kim khoáng tạp ư tinh kim, kỳ kim nhất thuần, cánh bất thành tạp; như mộc thành hôi, bất trọng vi mộc; chư Phật Như-lai Bồ-đề Niết-bàn, diệc phục như thị.

Lại như quặng vàng lộn với vàng ròng, khi vàng đã luyện thành ròng rồi, thì không xen-lộn được nữa; cũng như cây đã đốt ra tro, thì không thành cây được nữa; Bồ-đề Niết-bàn chư Phật Như-lai thì cũng như vậy.

ĐOẠN VIII - CHỈ CÁC ĐẠI CÓ THỂ DUNG NHAU

「富樓那!又汝問言:『地、水、火、風本性圓融周遍法界,疑水、火性不相𣣋滅?又徵虛空及諸大地俱遍法界,不合相容。』

“Phú-lâu-na! Hựu nhữ vấn ngôn: ‘Địa, thủy, hỏa, phong bản tính viên dung chu biến pháp giới, nghi thủy, hỏa tính bất tướng lăng diệt? Hựu trưng hư không cập chư đại địa câu biến pháp giới, bất hợp tướng dung.’

"Phú-lâu-na, ông lại hỏi về địa, thủy, hỏa, phong, bản-tính viên-mãn dung-hòa, cùng khắp pháp-giới, nghi sao tính nước, tính lửa lại không lấn nhau, diệt nhau và nêu ra hư-không và địa-đại đều cùng khắp pháp-giới, lẽ ra không dung được nhau.

富樓那!譬如虛空體非群相,而不拒彼諸相發揮。所以者何?富樓那!彼太虛空,日照則明,雲屯則暗,風搖則動,霽澄則清,氣凝則濁,土積成霾,水澄成映。於意云何?如是殊方諸有為相,為因彼生?為復空有?若彼所生,富樓那!且日照時既是日明,十方世界同為日色,云何空中更見圓日?若是空明,空應自照,云何中宵雲霧之時,不生光耀?當知是明,非日、非空,不異空、日。觀相元妄,無可指陳,猶邀空花結為空菓,云何詰其相𣣋滅義?觀性元真,唯妙覺明,妙覺明心先非水、火;云何復問不相容者!真妙覺明,亦復如是。汝以空明則有空現,地、水、火、風各各發明,則各各現;若俱發明,則有俱現。

Phú-lâu-na! Thí như hư không thể phi quần tướng, nhi bất cự bỉ chư tướng phát huy. Sở dĩ giả hà? Phú-lâu-na! Bỉ thái hư không, nhật chiếu tắc minh, vân đồn tắc ám, phong dao tắc động, tạnh trừng tắc thanh, khí ngưng tắc trọc, thổ tích thành mai, thủy trừng thành ánh. Ư ý vân hà? Như thị thù phương chư hữu vi tướng, vi nhân bỉ sinh? Vi phục không hữu? Nhược bỉ sở sinh, Phú-lâu-na! Thả nhật chiếu thời ký thị nhật minh, thập phương thế giới đồng vi nhật sắc, vân hà không trung cánh kiến viên nhật? Nhược thị không minh, không ưng tự chiếu, vân hà trung tiêu vân vụ chi thời, bất sinh quang diệu? Đương tri thị minh, phi nhật, phi không, bất dị không, nhật. Quán tướng nguyên vọng, vô khả chỉ trần, do yêu không hoa kết vi không quả, vân hà cật kỳ tướng lăng diệt nghĩa? Quán tính nguyên chân, duy diệu giác minh, diệu giác minh tâm tiên phi thủy, hỏa; vân hà phục vấn bất tướng dung giả! Chân diệu giác minh, diệc phục như thị. Nhữ dĩ không minh tắc hữu không hiện, địa, thủy, hỏa, phong các các phát minh, tắc các các hiện; nhược câu phát minh, tắc hữu câu hiện.

Phú-lâu-na, ví như hư-không, bản-thể không phải các tướng, mà không ngăn-cản các tướng phát-huy. Vì sao? Phú-lâu-na, nơi hư-không kia, mặt trời soi thì sáng, mây kéo thì tối, gió lay động, trời tạnh thì trong, hơi đọng, thì dục, bụi nổi thì mù, nước đứng thì ánh. Ý ông nghĩ thế nào? Các tướng hữu-vi khác nhau như vậy, nhân các cái kia mà sinh, hay nhân hư-không mà có. Phú-lâu-na, nếu như do các cái kia sinh ra, thì khi mặt trời soi, đã là mặt trời sáng, mười phương thế-giới đều thành sắc của mặt trời, làm sao giữa hư-không, lại còn thấy mặt trời tròn. Nếu là hư-không sáng, thì hư-không phải tự soi lấy, làm sao lúc giữa đêm mây-mù, lại không sinh ra sáng-chói. Vậy nên biết rằng cái sáng đó, không phải mặt trời, không phải hư-không và cũng không ra ngoài hư-không và mặt trời. Xét cái tướng vốn là vọng, không thể chỉ-bày, cũng như muốn hoa-đốm hư-không kết-thành quả hư-không, làm sao còn gạn-hỏi cái nghĩa lấn-diệt lẫn nhau? Xét cái tính, vốn là chân, chỉ là tính-giác diệu-minh, tính-giác diệu-minh, vốn không phải là nước hay là lửa, làm sao còn hỏi về nghĩa không dung được nhau? Bản-tính diệu-minh chân-thật thì cũng như vậy. Ông phát-minh cái hư-không, thì có hư-không hiện ra; địa, thủy, hỏa, phong, mỗi mỗi phát-minh, thì mỗi mỗi hiện ra; nếu cùng phát-minh, thì cùng hiện ra.

云何俱現?富樓那!如一水中現於日影,兩人同觀水中之日,東西各行,則各有日隨二人去;一東一西,先無准的。不應難言:『此日是一,云何各行?各日既雙,云何現一?』宛轉虛妄,無可憑據。

Vân hà câu hiện? Phú-lâu-na! Như nhất thủy trung hiện ư nhật ảnh, lưỡng nhân đồng quán thủy trung chi nhật, đông tây các hành, tắc các hữu nhật tùy nhị nhân khứ; nhất đông nhất tây, tiên vô chuẩn đích. Bất ưng nan ngôn: ‘Thử nhật thị nhất, vân hà các hành? Các nhật ký song, vân hà hiện nhất?’ Uyển chuyển hư vọng, vô khả bằng cứ.

Thế nào là cùng hiện ra? Phú-lâu-na, như trong một chỗ có nước, hiện ra bóng mặt trời, hai người đồng xem mặt trời trong nước; rồi một người đi phương Đông, một người đi phương Tây, thì hai bên đều có mặt trời theo mình cùng đi, một cái về phương Đông, một cái về phương Tây, không có chuẩn-đích nhất-định. Không nên gạn-hỏi rằng, mặt trời đó là một, sao lại mỗi cái đi theo mỗi người? Các mặt trời đã thành hai, làm sao trước kia chỉ hiện ra có một? Hư-vọng quanh-lộn như thế, không thể lấy gì làm bằng cứ.

MỤC VIII - CHỈ TÍNH DIỆU-MINH HỢP VỀ NHƯ-LAI-TẠNG, RỜI CẢ HAI NGHĨA "PHI" (KHÔNG LÀ) VÀ "TỨC" (TỨC LÀ)

ĐOẠN I - CHỈ VỀ TRÁI VỚI GIÁC-TÍNH, HỢP VỚI TRẦN-TƯỚNG

「富樓那!汝以色空相傾相奪於如來藏,而如來藏隨為色空,周遍法界,是故於中風動、空澄、日明、雲暗。眾生迷悶背覺合塵,故發塵勞有世間相。

“Phú-lâu-na! Nhữ dĩ sắc không tướng khuynh tướng đoạt ư Như-lai tàng, nhi Như-lai tàng tùy vi sắc không, chu biến pháp giới, thị cố ư trung phong động, không trừng, nhật minh, vân ám. Chúng sinh mê muộn bối giác hợp trần, cố phát trần lao hữu thế gian tướng.

"Phú-lâu-na, ông đem cái sắc, cái không, mà lấn-cướp lẫn nhau nơi Như-lai-tạng, thì Như-lai-tạng theo ông làm sắc, làm không, cùng khắp pháp-giới; vậy nên trong ấy, gió thổi thì động, hư-không thì lặng, mặt trời thì sáng, mây mù thì tối: Chúng sinh mê-lầm, trái với giác-tính, hợp với trần-tướng, cho nên phát ra trần-lao, có các tướng thế-gian.”

ĐOẠN II - CHỈ TÍNH DIỆU-MINH HỢP VỚI NHƯ-LAI-TẠNG

我以妙明不滅不生合如來藏,而如來藏唯妙覺明,圓照法界,是故於中一為無量、無量為一,小中現大、大中現小,不動道場遍十方界,身含十方無盡虛空,於一毛端現寶王剎,坐微塵裏轉大法輪。滅塵合覺,故發真如妙覺明性。

Ngã dĩ diệu minh bất diệt bất sinh hợp Như-lai tàng, nhi Như-lai tàng duy diệu giác minh, viên chiếu pháp giới, thị cố ư trung nhất vi vô lượng, vô lượng vi nhất, tiểu trung hiện đại, đại trung hiện tiểu, bất động đạo tràng biến thập phương giới, thân hàm thập phương vô tận hư không, ư nhất mao đoan hiện bảo vương sát, tọa vi trần lý chuyển đại pháp luân. Diệt trần hợp giác, cố phát chân như diệu giác minh tính.

"Tôi lấy tính diệu-minh, không diệt không sinh, hợp với Như-lai-tạng, thì Như-lai-tạng chỉ là tính-giác-diệu-minh, soi khắp pháp-giới; vậy nên trong ấy, một là vô-lượng, vô-lượng là một, trong nhỏ hiện ra lớn, trong lớn hiện ra nhỏ, đạo-trường bất-động cùng khắp thế-giới mười phương, thân trùm cả hư-không vô-tận mười phương, nơi đầu một mãy lông, hiện ra cõi Bảo-vương, ngồi trong vi-trần, chuyển bánh xe pháp lớn; diệt trần-tướng, hợp giác-tính, nên phát ra tính-giác chân-như nhiệm-mầu sáng-suốt.

ĐOẠN III - CHỈ NHƯ-LAI-TẠNG LÀ "PHI" TẤT-CẢ

而如來藏本妙圓心,非心、非空,非地、非水、非風、非火;非眼、非耳、鼻、舌、身、意,非色、非聲、香、味、觸、法;非眼識界、如是乃至非意識界;非明、無明、明、無明盡,如是乃至非老、非死、非老死盡;非苦、非集、非滅、非道;非智、非得;非檀那、非尸羅、非毘梨耶、非羼提、非禪那、非鉢剌若、非波羅蜜多;如是乃至非怛闥阿竭,非阿羅訶、三耶三菩;非大涅槃,非常、非樂、非我、非淨,以是俱非世出世故。

Nhi Như-lai tàng bản diệu viên tâm, phi tâm, phi không, phi địa, phi thủy, phi phong, phi hỏa; phi nhãn, phi nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý, phi sắc, phi thanh, hương, vị, xúc, pháp; phi nhãn thức giới, như thị nãi chí phi ý thức giới; phi minh, vô minh, minh, vô minh tận, như thị nãi chí phi lão, phi tử, phi lão tử tận; phi khổ, phi tập, phi diệt, phi đạo; phi trí, phi đắc; phi đàn-na, phi thi-la, phi tỳ-lê-da, phi sằn-đề, phi thiền-na, phi bát-lạt-nhã, phi ba-la-mật-đa; như thị nãi chí phi đát-thát-a-kiệt, phi A-la-ha, tam-da-tam-bồ; phi đại Niết-bàn, phi thường, phi lạc, phi ngã, phi tịnh, dĩ thị câu phi thế xuất thế cố.

"Nhưng Như-lai-tạng bản-tính diệu-viên, không phải là tâm, là không, là địa, là thủy, là phong, là hỏa; không phải là nhãn, là nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; không phải là sắc, là thanh, hương, vị, xúc, pháp; không phải là nhãn-thức-giới, cho đến không phải là ý-thức-giới; không phải là minh, là vô-minh, là hết minh, là hết vô-minh, cho đến không phải là lão, là tử, là hết lão tử; không phải là khổ, là tập, là diệt, là đạo; không phải là trí, là đắc; không phải là bố-thí, là trì-giới, là tinh-tiến, là nhẫn-nhục, là thiền-định, là trí-tuệ, là Ba-la-mật-đa, cho đến cũng không phải là Như-lai, là Ứng-cúng, là Chính-biến-tri; không phải là Đại-niết-bàn, là đức Thường, đức Lạc, đức Ngã, đức Tịnh, vì cái đó, đều không là các pháp thế-gian và xuất-thế-gian vậy.”

ĐOẠN IV - CHỈ NHƯ-LAI -TẠNG "TỨC" LÀ TẤT-CẢ

即如來藏元明心妙,即心、即空、即地、即水、即風、即火;即眼、即耳、鼻、舌、身、意、即色、即聲、香、味、觸、法;即眼識界、如是乃至即意識界;即明、無明、明、無明盡,如是乃至即老、即死、即老死盡;即苦、即集、即滅、即道;即智、即得;即檀那、即尸羅、即毘梨耶、即羼提、即禪那、即鉢剌若、即波羅蜜多;如是乃至即怛闥阿竭,即阿羅訶、三耶三菩;即大涅槃,即常、即樂、即我、即淨,以是即俱世出世故。

Tức Như-lai tàng nguyên minh tâm diệu, tức tâm, tức không, tức địa, tức thủy, tức phong, tức hỏa; tức nhãn, tức nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý, tức sắc, tức thanh, hương, vị, xúc, pháp; tức nhãn thức giới, như thị nãi chí tức ý thức giới; tức minh, vô minh, minh, vô minh tận, như thị nãi chí tức lão, tức tử, tức lão tử tận; tức khổ, tức tập, tức diệt, tức đạo; tức trí, tức đắc; tức đàn-na, tức thi-la, tức tỳ-lê-da, tức sằn-đề, tức thiền-na, tức bát-lạt-nhã, tức ba-la-mật-đa; như thị nãi chí tức đát-thát-a-kiệt, tức A-la-ha, tam-da-tam-bồ; tức đại Niết-bàn, tức thường, tức lạc, tức ngã, tức tịnh, dĩ thị tức câu thế xuất thế cố.

"Tức cái bản-tính minh-diệu Như-lai-tạng, cũng tức là tâm, là không, là địa, là thủy, là phong, là hỏa; tức là nhãn, là nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; tức là sắc, là thanh, hương, vị, xúc, pháp; tức là nhãn-thức-giới, cho đến là ý-thức-giới; tức là minh, là vô-minh, là hết minh, là hết vô-minh, cho đến tức là lão, là tử, là hết lão tử; tức là khổ, là tập, là diệt, là đạo; tức là trí, là đắc; tức là bố-thí, là trì-giới, là tinh-tiến, là nhẫn-nhục, là thiền-định, là trí-tuệ, là Ba-la-mật-đa, cho đến tức là Như-lai, là Ứng-cúng, là Chính-biến-tri; tức là Đại-niết-bàn, là đức Thường, đức Lạc, đức Ngã, đức Tịnh; do cái đó, tức là các pháp thế-gian và xuất-thế-gian vậy.”

ĐOẠN V - CHỈ RA NGOÀI CÁC NGHĨA "PHI" VÀ "TỨC" VÀ PHẢI NHỜ ĐẾN NGÓN TAY HAY.

即如來藏妙明心元,離即、離非,是即、非即。如何世間三有眾生,及出世間聲聞、緣覺,以所知心測度如來無上菩提!用世語言入佛知見!譬如琴、瑟、箜篌、琵琶,雖有妙音,若無妙指終不能發。汝與眾生亦復如是。寶覺真心各各圓滿,如我按指,海印發光;汝暫舉心,塵勞先起,由不勤求無上覺道,愛念小乘,得少為足。」

Tức Như-lai tàng diệu minh tâm nguyên, ly tức, ly phi, thị tức, phi tức. Như hà thế gian tam hữu chúng sinh, cập xuất thế gian thanh văn, duyên giác, dĩ sở tri tâm trắc độ Như-lai vô thượng Bồ-đề! Dụng thế ngữ ngôn nhập Phật tri kiến! Thí như cầm, sắt, không-hầu, tỳ-bà, tuy hữu diệu âm, nhược vô diệu chỉ chung bất năng phát. Nhữ dữ chúng sinh diệc phục như thị. Bảo giác chân tâm các các viên mãn, như ngã án chỉ, hải ấn phát quang; nhữ tạm cử tâm, trần lao tiên khởi, do bất cần cầu vô thượng giác đạo, ái niệm tiểu thừa, đắc thiểu vi túc.”

"Tức cái tính-giác diệu-minh Như-lai-tạng, rời cả các nghĩa "tức", "phi" và cũng là "tức", là "phi"; làm sao chúng-sinh ba cõi thế-gian và các hàng Thanh-văn, Duyên-giác xuất-thế-gian, lấy cái tâm hay-biết sự vật, mà đo-lường được vô-thượng Bồ-đề của Như-lai, dùng tiếng nói thế-gian, mà vào được tri-kiến của Phật. Ví như, những cây đàn cầm, sắt, không-hầu, tỳ-bà, tuy có tiếng hay, nhưng nếu không có ngón tay hay, thì rốt-cuộc cũng không phát ra được. Ông cùng chúng-sinh thì cũng như vậy. Tâm-tính chân-thật, mỗi người đều đầy-đủ, nhưng khi tôi ấn ngón tay, thì hải-ấn phát ra hào-quang, còn các ông tạm móng tâm lên, thì trần-lao đã nổi, do vì không siêng-năng cầu đạo vô-thượng-giác, ưa nhớ tiểu-thừa, được một ít đã cho là đủ". ---o0o---

MỤC IX - CHỈ MÊ-VỌNG KHÔNG CÓ NHÂN, HẾT MÊ TỨC LÀ BỒ-ĐỀ.

ĐOẠN I - NGHI GIÁC-TÍNH VÌ NHÂN GÌ MÀ CÓ VỌNG

富樓那言:「我與如來寶覺圓明真妙淨心無二圓滿;而我昔遭無始妄想久在輪迴,今得聖乘猶未究竟;世尊諸妄一切圓滅,獨妙真常。敢問如來,一切眾生何因有妄,自蔽妙明,受此淪溺?」

Phú-lâu-na ngôn: “Ngã dữ Như-lai bảo giác viên minh chân diệu tịnh tâm vô nhị viên mãn; nhi ngã tích tao vô thủy vọng tưởng cửu tại luân hồi, kim đắc thánh thừa do vị cứu cánh; Thế-tôn chư vọng nhất thiết viên diệt, độc diệu chân thường. Cảm vấn Như-lai, nhất thiết chúng sinh hà nhân hữu vọng, tự tế diệu minh, thọ thử luân nịch?”

Ông Phú-lâu-na bạch: "Chân-tâm viên-giác diệu-minh của tôi và của Như-lai, đều viên-mãn không hai, mà tôi, trước kia mắc vọng-tưởng vô-thủy, ở lâu trong luân-hồi, nay được thánh-thừa, còn chưa rốt-ráo; Thế-tôn, thì khắp tất-cả các vọng đều diệt trọn, chỉ có diệu-dụng tính chân-thường. Xin hỏi đức Như-lai, hết thảy chúng-sinh, vì nhân gì mà có vọng, tự che tính diệu-minh, mà chịu chìm-đắm như vậy?"

ĐOẠN II - CHỈ MÊ VỐN KHÔNG NHÂN

佛告富樓那:「汝雖除疑,餘惑未盡。吾以世間現前諸事,今復問汝,汝豈不聞室羅城中演若達多,忽於晨朝以鏡照面,愛鏡中頭眉目可見,瞋責己頭不見面目,以為魑魅,無狀狂走。於意云何?此人何因無故狂走?」

Phật cáo Phú-lâu-na: “Nhữ tuy trừ nghi, dư hoặc vị tận. Ngô dĩ thế gian hiện tiền chư sự, kim phục vấn nhữ, nhữ khởi bất văn Thất-la thành trung Diễn-nhã-đạt-đa, hốt ư thần triêu dĩ kính chiếu diện, ái kính trung đầu mi mục khả kiến, sân trách kỷ đầu bất kiến diện mục, dĩ vi si mị, vô trạng cuồng tẩu. Ư ý vân hà? Thử nhân hà nhân vô cố cuồng tẩu?”

Phật bảo ông Phú-lâu-na: "Ông tuy trừ được lòng nghi, nhưng còn những điều lầm chưa dứt hết. Nay tôi lại đem những việc hiện-tiền thế-gian mà hỏi ông. Há ông không nghe trong thành Thất-la-phiệt, có anh Diễn-nhã-đạt-đa, buổi mai lấy gương soi mặt, bỗng-nhiên ưa cái đầu trong gương, lông mày, con mắt có thể thấy được, rồi giận-trách cái đầu mình, sao lại không thấy mặt mày, cho là giống yêu-quái, rồi không cớ gì phát điên bỏ chạy. Ý ông nghĩ thế nào, người đó vì nguyên-nhân gì, vô cớ phát điên bỏ chạy?"

富樓那言:「是人心狂,更無他故。」

Phú-lâu-na ngôn: “Thị nhân tâm cuồng, cánh vô tha cố.”

Ông Phú-lâu-na bạch: "Tâm người ấy điên, chứ không có cớ gì khác."

佛言:「妙覺明圓、本圓明妙,既稱為妄,云何有因?若有所因,云何名妄?自諸妄想展轉相因,從迷積迷以歷塵劫;雖佛發明,猶不能返。如是迷因,因迷自有。識迷無因,妄無所依;尚無有生,欲何為滅?得菩提者,如寤時人、說夢中事;心縱精明,欲何因緣取夢中物?況復無因本無所有。如彼城中演若達多,豈有因緣自怖頭走?忽然狂歇,頭非外得。縱未歇狂,亦何遺失?富樓那!妄性如是,因何為在?

Phật ngôn: “Diệu giác minh viên, bản viên minh diệu, ký xưng vi vọng, vân hà hữu nhân? Nhược hữu sở nhân, vân hà danh vọng? Tự chư vọng tưởng triển chuyển tướng nhân, tùng mê tích mê dĩ lịch trần kiếp; tuy Phật phát minh, do bất năng phản. Như thị mê nhân, nhân mê tự hữu. Thức mê vô nhân, vọng vô sở y; thượng vô hữu sinh, dục hà vi diệt? Đắc Bồ-đề giả, như ngụ thời nhân, thuyết mộng trung sự; tâm túng tinh minh, dục hà nhân duyên thủ mộng trung vật? Huống phục vô nhân bản vô sở hữu. Như bỉ thành trung Diễn-nhã-đạt-đa, khởi hữu nhân duyên tự bố đầu tẩu? Hốt nhiên cuồng hiết, đầu phi ngoại đắc. Túng vị hiết cuồng, diệc hà di thất? Phú-lâu-na! Vọng tính như thị, nhân hà vi tại?

Phật dạy: "Tính diệu-giác viên-mãn sáng-suốt, bản-lai là diệu-minh cùng-khắp; đã gọi là vọng, thì làm sao có nhân, nếu có nguyên-nhân, thì sao gọi là vọng? Chỉ tự các vọng tưởng xoay-vần làm nguyên-nhân cho nhau, theo cái mê, chứa cái mê, trải qua kiếp số như vi-trần; tuy Phật phát-minh, còn không biết trở về. Nguyên-nhân cái mê như vậy, là nhân mê tự có, biết cái mê không có nhân, thì cái vọng không chỗ nương-tựa, còn không có sinh, thì muốn đem cái gì mà làm cái diệt. Người được đạo Bồ-đề như người tỉnh-giấc kể chuyện trong chiêm-bao; tâm dầu rõ-ràng, nhưng không thể có nhân-duyên gì lấy được những vật trong chiêm-bao; huống nữa, cái mê lại không có nhân, vốn không có gì cả. Như anh Diễn-nhã-đạt-đa trong thành kia, đâu có nhân-duyên, mà tự sợ đầu mình bỏ chạy, bỗng-nhiên hết điên, thì cái đầu đâu phải từ ngoài đưa tới; dầu chưa hết điên, cái đầu cũng không hề mất. Phú-lâu-na, tính của cái vọng là như vậy, làm sao còn có nguyên-nhân được.”

ĐOẠN III - CHỈ DỨT CÁC DUYÊN THÌ HẾT ĐIÊN VÀ GIÁC-TÍNH VỐN CÙNG KHẮP

汝但不隨分別世間、業果、眾生、三種相續,三緣斷故,三因不生;則汝心中演若達多狂性自歇。歇即菩提,勝淨明心本周法界,不從人得;何藉劬勞肯綮修證?

Nhữ đãn bất tùy phân biệt thế gian, nghiệp quả, chúng sinh, tam chủng tương tục, tam duyên đoạn cố, tam nhân bất sinh; tắc nhữ tâm trung Diễn-nhã-đạt-đa cuồng tính tự hiết. Hiết tức Bồ-đề, thắng tịnh minh tâm bản chu pháp giới, bất tùng nhân đắc; hà tạ cù lao khẳng khể tu chứng?

"Ông chỉ không theo phân-biệt ba thứ tiếp-tục nơi thế-gian, nghiệp-quả, chúng-sinh", thì ba duyên đã đoạn rồi, ba nhân không sinh ra nữa, và tính điên của anh Diễn-nhã-đạt-đa trong tâm ông tự hết. Hết, tức là tâm-tính Bồ-đề trong-sạch sáng-suốt, bản-lai cùng khắp pháp-giới, không do ai đưa lại, nào cần gì phải tu-chứng nhọc-nhằn vất-vả.

「譬如有人,於自衣中、繫如意珠,不自覺知,窮露他方,乞食馳走;雖實貧窮,珠不曾失,忽有智者指示其珠,所願從心,致大饒富,方悟神珠非從外得。」

“Thí như hữu nhân, ư tự y trung, hệ như ý châu, bất tự giác tri, cùng lộ tha phương, khất thực trì tẩu; tuy thực bần cùng, châu bất tằng thất, hốt hữu trí giả chỉ thị kỳ châu, sở nguyện tùng tâm, trí đại nhiêu phú, phương ngộ thần châu phi tùng ngoại đắc.”

Ví như có người, ở nơi áo mình, buộc một hạt châu như-ý, mà không hay-biết, nên phải xin ăn rong-ruổi phương xa, nghèo-nàn rách-rưới; tuy người ấy thật nghèo-nàn, nhưng hạt châu không hề bị mất; bỗng-nhiên có người khôn, chỉ hạt châu ra cho, thì người ấy muốn gì được nấy, thành giàu-có lớn, rồi mới ngộ được hạt châu quý-hóa ấy, không phải do ở ngoài đưa tới".

MỤC X - LẠI PHÁ XÍCH NHÂN-DUYÊN, TỰ-NHIÊN VÀ TRÁCH CHỈ BIẾT NGHE NHIỀU

ĐOẠN I - PHÁT NGHI MÀ HỎI

即時阿難在大眾中,頂禮佛足,起立白佛:「世尊現說殺、盜、婬業三緣斷故,三因不生;心中達多狂性自歇,歇即菩提,不從人得。斯則因緣皎然明白,云何如來頓棄因緣?我從因緣心得開悟。

Tức thời A-nan tại đại chúng trung, đỉnh lễ Phật túc, khởi lập bạch Phật: “Thế-tôn hiện thuyết sát, đạo, dâm nghiệp tam duyên đoạn cố, tam nhân bất sinh; tâm trung đạt đa cuồng tính tự hiết, hiết tức Bồ-đề, bất tùng nhân đắc. Tư tắc nhân duyên kiểu nhiên minh bạch, vân hà Như-lai đốn khí nhân duyên? Ngã tùng nhân duyên tâm đắc khai ngộ.

Khi bấy giờ ông A-nan, ở trong đại-chúng, đỉnh-lễ chân Phật, đứng dậy bạch Phật: "Đức Thế-tôn hiện nói về các nghiệp sát, đạo, dâm. Về ba duyên đoạn rồi, thì ba nhân không sinh và tính điên anh Diễn-nhã-đạt-đa trong tâm tự hết; hết, tức là Bồ-đề, không do người khác đưa tới; như thế, rõ-ràng là nhân-duyên rồi, làm sao đức Như-lai lại bỏ nghĩa nhân-duyên? Chính tôi, do nhân-duyên, mà tâm được khai-ngộ.

世尊!此義何獨我等年少有學聲聞,今此會中大目犍連,及舍利弗、須菩提等,從老梵志聞佛因緣,發心開悟得成無漏。今說菩提不從因緣,則王舍城拘舍梨等所說自然,成第一義!唯垂大悲開發迷悶!」

Thế-tôn! Thử nghĩa hà độc ngã đẳng niên thiếu hữu học thanh văn, kim thử hội trung đại Mục-kiền-liên, cập Xá-lợi-phất, Tu-bồ-đề đẳng, tùng lão phạn chí văn Phật nhân duyên, phát tâm khai ngộ đắc thành vô lậu. Kim thuyết Bồ-đề bất tùng nhân duyên, tắc vương xá thành Câu-xá-lê đẳng sở thuyết tự nhiên, thành đệ nhất nghĩa! Duy thùy đại bi khai phát mê muộn!”

Bạch Thế-tôn, nghĩa ấy đâu chỉ đối với hàng Thanh-văn hữu-học, ít tuổi như chúng tôi, mà hiện nay, trong Hội nầy, ông Đại-mục-kiền-liên, ông Xá-lỵ-phất, ông Tu-bồ-đề, vân vân ... cũng từ ông Lão-phạm-chí nghe lý nhân-duyên của Phật, mà phát-tâm khai-ngộ, được thành quả vô-lậu. Nay Phật dạy rằng Bồ-đề không do nhân-duyên, thì các thuyết tự-nhiên của bọn Câu-xá-ly, thành Vương-xá, lại thành đệ-nhất-nghĩa. Xin Phật rủ lòng đại-bi, khai-phá chỗ mê-lầm cho chúng tôi". ---o0o---

ĐOẠN II - GẠN CÙNG CHỖ NGHI

佛告阿難:「即如城中演若達多,狂性因緣,若得滅除,則不狂性自然而出。因緣、自然,理窮於是。

Phật cáo A-nan: “Tức như thành trung Diễn-nhã-đạt-đa, cuồng tính nhân duyên, nhược đắc diệt trừ, tắc bất cuồng tính tự nhiên nhi xuất. Nhân duyên, tự nhiên, lý cùng ư thị.

Phật bảo ông A-nan : "Tức như anh Diễn-nhã-đạt-đa trong thành, nếu diệt-trừ được nhân-duyên tính điên, thì tính không điên tự-nhiên hiện ra; các lý nhân-duyên, tự-nhiên, cuối-cùng chỉ như vậy."

ĐOẠN III - LẤY VÍ-DỤ CÁI ĐẦU KHÔNG MẤT ĐỂ CHỈ CÁI ĐIÊN LÀ HƯ-VỌNG

阿難!演若達多頭本自然,本自其然,無然非自,何因緣故怖頭狂走?若自然頭因緣故狂,何不自然因緣故失?本頭不失,狂怖妄出,曾無變易,何藉因緣?本狂自然,本有狂怖,未狂之際狂何所潛?不狂自然,頭本無妄,何為狂走?若悟本頭,識知狂走,因緣、自然俱為戲論。

A-nan! Diễn-nhã-đạt-đa đầu bản tự nhiên, bản tự kỳ nhiên, vô nhiên phi tự, hà nhân duyên cố bố đầu cuồng tẩu? Nhược tự nhiên đầu nhân duyên cố cuồng, hà bất tự nhiên nhân duyên cố thất? Bản đầu bất thất, cuồng bố vọng xuất, tằng vô biến dịch, hà tạ nhân duyên? Bản cuồng tự nhiên, bản hữu cuồng bố, vị cuồng chi tế cuồng hà sở tiềm? Bất cuồng tự nhiên, đầu bản vô vọng, hà vi cuồng tẩu? Nhược ngộ bản đầu, thức tri cuồng tẩu, nhân duyên, tự nhiên câu vi hí luận.

"A-nan, như cái đầu anh Diễn-nhã-đạt-đa vốn là tự-nhiên, nó đã tự-nhiên như thế, thì có lúc nào lại không tự-nhiên, vậy vì nhân-duyên gì, mà sợ cái đầu, phát điên bỏ chạy? Nếu cái đầu tự-nhiên, vì nhân-duyên mà điên, thì sao không tự-nhiên, vì nhân-duyên mà mất đi? Cái đầu vốn không mất, điên-sợ giả-dối phát ra, chứ nào có thay-đổi gì, mà phải nhờ đến nhân-duyên. Nếu tính điên vốn là tự-nhiên và vốn có sẵn tính điên-sợ, thì khi chưa điên, cái điên núp vào chỗ nào? Nếu tính không điên là tự-nhiên, thì cái đầu vẫn không việc gì, sao lại phát điên bỏ chạy? Nếu ngộ được cái đầu sẵn có, biết mình vì phát điên mà bỏ chạy, thì nhân-duyên và tự-nhiên đều là hý-luận."

ĐOẠN IV - PHÁ XÍCH NHÂN-DUYÊN VÀ TỰ-NHIÊN, DẪN VÀO BỒ-ĐỀ

是故我言『三緣斷故即菩提心』,菩提心生,生滅心滅。此但生滅,滅生俱盡,無功用道。若有自然,如是則明自然心生,生滅心滅,此亦生滅;無生滅者名為自然。猶如世間諸相雜和成一體者,名和合性;非和合者稱本然性。本然非然,和合非合,合、然俱離,離、合俱非,此句方名無戲論法。

Thị cố ngã ngôn ‘tam duyên đoạn cố tức Bồ-đề tâm’, Bồ-đề tâm sinh, sinh diệt tâm diệt. Thử đãn sinh diệt, diệt sinh câu tận, vô công dụng đạo. Nhược hữu tự nhiên, như thị tắc minh tự nhiên tâm sinh, sinh diệt tâm diệt, thử diệc sinh diệt; vô sinh diệt giả danh vi tự nhiên. Do như thế gian chư tướng tạp hòa thành nhất thể giả, danh hòa hợp tính; phi hòa hợp giả xưng bản nhiên tính. Bản nhiên phi nhiên, hòa hợp phi hợp, hợp, nhiên câu ly, ly, hợp câu phi, thử cú phương danh vô hí luận pháp.

"Vậy nên tôi nói: Ba duyên đoạn-trừ rồi, tức là tâm Bồ-đề. Tâm Bồ-đề sinh, tâm sinh-diệt diệt, đó chỉ là sinh-diệt. Diệt và sinh đều hết, thì gọi là vô-công-dụng-đạo. Nếu có tự-nhiên, như vậy là phát-minh tâm tự-nhiên sinh, tâm sinh-diệt diệt, thế cũng là sinh-diệt và lấy cái không-sinh-diệt, gọi là tự-nhiên. Cũng như, trong thế-gian các tướng hòa-lẫn thành ra một thể, gọi là tính hòa-hợp; cái không phải hòa-hợp, thì gọi là tính bản-nhiên. Bản-nhiên không phải bản-nhiên, hòa-hợp không phải hòa-hợp, hòa-hợp và bản-nhiên đều rời-bỏ, rời-bỏ và không rời-bỏ đều "phi", câu nói nầy, mới gọi là pháp không-hý-luận."

菩提涅槃尚在遙遠,非汝歷劫辛勤修證,雖復憶持十方如來十二部經清淨妙理如恒河沙,秖益戲論。汝雖談說因緣、自然決定明了,人間稱汝多聞第一,以此積劫多聞薰習,不能免離摩登伽難。何須待我佛頂神呪,摩登伽心婬火頓歇得阿那含;於我法中成精進林,愛河乾枯,令汝解脫。是故阿難!汝雖歷劫憶持如來祕密妙嚴,不如一日修無漏業,遠離世間憎、愛二苦。如摩登伽宿為婬女,由神呪力銷其愛欲,法中今名性比丘尼。與羅睺羅母耶輸陀羅同悟宿因,知歷世因貪愛為苦,一念薰修無漏善故,或得出纏,或蒙授記。如何自欺,尚留觀聽!」

Bồ-đề Niết-bàn thượng tại dao viễn, phi nhữ lịch kiếp tân cần tu chứng, tuy phục ức trì thập phương Như-lai thập nhị bộ kinh thanh tịnh diệu lý như hằng hà sa, chỉ ích hí luận. Nhữ tuy đàm thuyết nhân duyên, tự nhiên quyết định minh liễu, nhân gian xưng nhữ đa văn đệ nhất, dĩ thử tích kiếp đa văn huân tập, bất năng miễn ly Ma-đăng-già nan. Hà tu đãi ngã Phật đỉnh thần chú, Ma-đăng-già tâm dâm hỏa đốn hiết đắc A-na-hàm; ư ngã pháp trung thành tinh tiến lâm, ái hà can khô, lệnh nhữ giải thoát. Thị cố A-nan! Nhữ tuy lịch kiếp ức trì Như-lai bí mật diệu nghiêm, bất như nhất nhật tu vô lậu nghiệp, viễn ly thế gian tăng, ái nhị khổ. Như Ma-đăng-già túc vi dâm nữ, do thần chú lực tiêu kỳ ái dục, pháp trung kim danh tính tỳ-kheo ni. Dữ La-hầu-la mẫu Da-du-đà-la đồng ngộ túc nhân, tri lịch thế nhân tham ái vi khổ, nhất niệm huân tu vô lậu thiện cố, hoặc đắc xuất triền, hoặc mông thụ ký. Như hà tự khi, thượng lưu quán thính!”

"Bồ-đề Niết-bàn còn ở xa-xôi, nếu ông không trải qua nhiều kiếp siêng-năng tu-chứng, thì tuy ghi-nhớ diệu-lý thanh-tịnh mười hai bộ kinh của thập phương Như-lai, như cát sông Hằng, cũng chỉ càng thêm hý-luận. Ông tuy nói lý nhân-duyên, tự-nhiên chắc-chắn rõ-ràng, người đời gọi ông là đa-văn bậc nhất. Với cái huân-tập đa-văn nhiều kiếp đó, ông không thoát khỏi được nạn Ma-đăng-già, phải đợi thần-chú Phật-đỉnh của tôi, làm cho lửa dâm trong tâm nàng Ma-đăng-già hết đi và nàng được quả A-na-hàm, ở trong Phật-pháp thành rừng tinh-tiến, sông ái khô cạn, mới khiến cho ông được giải-thoát. Vậy nên ông A-nan, tuy ông nhiều kiếp ghi-nhớ những pháp bí-mật diệu-nghiêm của Như-lai, cũng không bằng một ngày tu-nghiệp vô-lậu, xa-rời hai khổ ưa-ghét thế-gian. Như nàng Ma-đăng-già, trước kia là dâm-nữ, do sức thần-chú, tiêu-diệt lòng ưa-muốn, nay ở trong Phật-pháp, gọi tên là Tính-tỷ-khưu-ni, cùng với mẹ La-hầu-la là Gia-du-đà-la, đồng ngộ nhân trước, biết đã trải qua nhiều đời, nhân vì tham-ái mà khổ, một niệm huân-tu pháp vô-lậu-thiện, thì người đã ra khỏi ràng-buộc, người thì được Phật thụ-ký, làm sao, ông còn tự dối mình, mắc-míu mãi trong vòng nghe-thấy".

MỤC XI - CHỈ NGHĨA QUYẾT-ĐỊNH

ĐOẠN I - THUẬT LẠI CHỖ NGỘ, THỈNH-CẦU PHÉP TU-HÀNH

阿難及諸大眾,聞佛示誨,疑惑銷除,心悟實相;身意輕安得未曾有!重復悲淚,頂禮佛足,長跪合掌而白佛言:「無上大悲清淨寶王善開我心!能以如是種種因緣方便提獎,引諸沈冥出於苦海。世尊!我今雖承如是法音,知如來藏妙覺明心遍十方界,含育如來十方國土、清淨寶嚴妙覺王剎;如來復責多聞無功,不逮修習。我今猶如旅泊之人,忽蒙天王賜以華屋。雖獲大宅,要因門入,唯願如來不捨大悲,示我在會諸蒙暗者捐捨小乘,畢獲如來無餘涅槃本發心路!令有學者,從何攝伏疇昔攀緣,得陀羅尼,入佛知見?」作是語已,五體投地。在會一心,佇佛慈旨。

A-nan cập chư đại chúng, văn Phật thị hối, nghi hoặc tiêu trừ, tâm ngộ thực tướng; thân ý khinh an đắc vị tằng hữu! Trùng phục bi lệ, đỉnh lễ Phật túc, trường quỵ hợp chưởng nhi bạch Phật ngôn: “Vô thượng đại bi thanh tịnh bảo vương thiện khai ngã tâm! Năng dĩ như thị chủng chủng nhân duyên phương tiện đề thưởng, dẫn chư trầm minh xuất ư khổ hải. Thế-tôn! Ngã kim tuy thừa như thị pháp âm, tri Như-lai tàng diệu giác minh tâm biến thập phương giới, hàm dục Như-lai thập phương quốc độ, thanh tịnh bảo nghiêm diệu giác vương sát; Như-lai phục trách đa văn vô công, bất đãi tu tập. Ngã kim do như lữ bạc chi nhân, hốt mông thiên vương tứ dĩ hoa ốc. Tuy hoạch đại trạch, yếu nhân môn nhập, duy nguyện Như-lai bất xả đại bi, thị ngã tại hội chư mông ám giả quyên xả tiểu thừa, tất hoạch Như-lai vô dư Niết-bàn bản phát tâm lộ! Lệnh hữu học giả, tùng hà nhiếp phục trù tích phan duyên, đắc đà la ni, nhập Phật tri kiến?” Tác thị ngữ dĩ, ngũ thể đầu địa. Tại hội nhất tâm, trữ Phật từ chỉ.

Ông A-nan và cả đại-chúng nghe lời Phật dạy, tiêu hết nghi-hoặc, ngộ được thật-tướng, thân và ý đều yên-lành, được pháp chưa từng có. Rồi lại thương-khóc, đỉnh-lễ chân Phật, quỳ dài chấp tay mà bạch Phật rằng: "Đức vô-thượng đại-bi thanh-tịnh Bảo-vương, khéo khai-ngộ cho tâm chúng tôi, dùng các nhân-duyên như thế, phương-tiện dắt-dìu những kẻ chìm-đắm ra khỏi bể khổ. Bạch Thế-tôn, nay tôi tuy được vâng nghe pháp-âm như vậy, nhận-biết tâm-tính diệu-minh Như-lai-tạng cùng khắp thế-giới mười phương, trùm-chứa các cõi Phật bảo-nghiêm thanh-tịnh trong thập phương quốc-độ; Như-lai lại trách tôi nghe nhiều mà vô-dụng, không kịp-thời tu-tập. Nay tôi, giống như người lênh-đênh xiêu-bạt, bỗng-nhiên gặp vị Thiên-vương cho cái nhà tốt; tuy được nhà lớn, nhưng cốt-yếu phải biết cửa mà vào; xin nguyện đức Như-lai không ngớt lòng đại-bi, chỉ-bày cho những kẻ mờ-tối trong Hội nầy, rời-bỏ pháp Tiểu-thừa và đều nhận được con đường phát-tâm tu-tập đi đến vô-dư Niết-bàn của Như-lai, khiến cho những hàng hữu-học biết cách uốn-dẹp tâm phan-duyên lâu đời, được pháp tổng-trì, chứng-nhập tri-kiến của Phật". Ông A-nan nói lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, ở trong Hội một lòng, mong đợi từ-chỉ của Phật.

爾時,世尊哀愍會中緣覺、聲聞於菩提心未自在者,及為當來佛滅度後末法眾生發菩提心,開無上乘妙修行路。宣示阿難及諸大眾:「汝等決定發菩提心,於佛如來妙三摩提不生疲惓,應當先明發覺初心二決定義。

Nhĩ thời, Thế-tôn ai mẫn hội trung duyên giác, thanh văn ư Bồ-đề tâm vị tự tại giả, cập vi đương lai Phật diệt độ hậu mạt pháp chúng sinh phát Bồ-đề tâm, khai vô thượng thừa diệu tu hành lộ. Tuyên thị A-nan cập chư đại chúng: “Nhữ đẳng quyết định phát Bồ-đề tâm, ư Phật Như-lai diệu tam-ma-đề bất sinh bì quyền, ưng đương tiên minh phát giác sơ tâm nhị quyết định nghĩa.

Khi bấy giờ, đức Thế-tôn thương-xót các hàng Thanh-văn, Duyên-giác trong Hội, chưa được tự-tại nơi tâm Bồ-đề, và những chúng-sinh phát Bồ-đề-tâm trong đời mạt-pháp về sau, khi Phật đã diệt-độ rồi, khai-thị cho đường tu-hành nhiệm-mầu pháp vô-thượng-thừa, và chỉ-dạy ông A-nan với cả đại-chúng rằng: "Các ông quyết-định phát-tâm Bồ-đề, đối với pháp Tam-ma-đề chư Phật Như-lai, không sinh mệt-mỏi, thì trước hết, nên rõ hai nghĩa quyết-định, trong lúc bắt đầu phát-tâm tự-giác."

ĐOẠN II - XÉT VỀ PHÁT TÂM TRONG LÚC TU-NHÂN

Chi 1. - Dùng hư-không để ví với chính-nhân và chia ra bên trong, bên đục.

「云何初心二義決定?「阿難!第一義者,汝等若欲捐捨聲聞,修菩薩乘,入佛知見,應當審觀因地發心,與果地覺為同、為異?阿難!若於因地,以生滅心為本修因,而求佛乘不生不滅,無有是處。以是義故,汝當照明諸器世間可作之法,皆從變滅。阿難!汝觀世間可作之法,誰為不壞?然終不聞爛壞虛空。何以故?空非可作,由是始終無壞滅故。則汝身中堅相為地,潤濕為水,煖觸為火,動搖為風。由此四纏,分汝湛圓妙覺明心為視、為聽、為覺、為察,從始入終,五疊渾濁。

“Vân hà sơ tâm nhị nghĩa quyết định? “A-nan! Đệ nhất nghĩa giả, nhữ đẳng nhược dục quyên xả thanh văn, tu Bồ-tát thừa, nhập Phật tri kiến, ưng đương thẩm quán nhân địa phát tâm, dữ quả địa giác vi đồng, vi dị? A-nan! Nhược ư nhân địa, dĩ sinh diệt tâm vi bản tu nhân, nhi cầu Phật thừa bất sinh bất diệt, vô hữu thị xứ. Dĩ thị nghĩa cố, nhữ đương chiếu minh chư khí thế gian khả tác chi pháp, giai tùng biến diệt. A-nan! Nhữ quán thế gian khả tác chi pháp, thùy vi bất hoại? Nhiên chung bất văn lạn hoại hư không. Hà dĩ cố? Không phi khả tác, do thị thủy chung vô hoại diệt cố. Tắc nhữ thân trung kiên tướng vi địa, nhuận thấp vi thủy, noãn xúc vi hỏa, động dao vi phong. Do thử tứ triền, phân nhữ trạm viên diệu giác minh tâm vi thị, vi thính, vi giác, vi sát, tùng thủy nhập chung, ngũ điệp hồn trọc.

"Thế nào là hai nghĩa quyết-định trong lúc mới phát-tâm. A-nan, nghĩa thứ nhất là: Nếu các ông muốn rời-bỏ phép Thanh-văn, tu thừa Bồ-tát, vào tri-kiến của Phật, thì nên xét kỹ chỗ phát tâm trong lúc tu-nhân với chỗ giác-ngộ trong lúc chứng-quả, là đồng hay là khác nhau. A-nan, nếu trong lúc tu-nhân, đem cái tâm sinh-diệt làm cái nhân tu-hành, đề cầu cho được cái quả bất-sinh bất-diệt của Phật-thừa, thì thật không thể được. Do cái nghĩa đó, ông nên xét các pháp, có thể làm ra trong khí-thế-gian, đều phải thay-đổi diệt mất. A-nan, ông xét các pháp, có thể làm ra trong thế-gian, có cái gì là không hư-nát, nhưng không bao-giờ nghe hư-không tan-rã, vì sao? Vì hư-không không phải là cái bị làm ra, do đó, trước sau không hề tan mất. Thì trong thân ông, tướng cứng là địa-đại, thấm ướt là thủy-đại, hơi ấm là hỏa-đại, lay-động là phong-đại; do bốn cái ấy ràng-buộc, mà chia cái tâm-tính diệu-minh vẳng-lặng, cùng khắp của ông, làm ra cái thấy, cái nghe, cái biết, cái xét, từ đầu đến cuối, tạo-thành năm lớp ô-trược.

云何為濁?阿難!譬如清水清潔本然;即彼塵土灰沙之倫,本質留礙,二體法爾,性不相循。有世間人,取彼土塵投於淨水,土失留礙,水亡清潔,容貌汩然,名之為濁。汝濁五重,亦復如是。

Vân hà vi trọc? A-nan! Thí như thanh thủy thanh khiết bản nhiên; tức bỉ trần thổ hôi sa chi luân, bản chất lưu ngại, nhị thể pháp nhĩ, tính bất tướng tuần. Hữu thế gian nhân, thủ bỉ thổ trần đầu ư tịnh thủy, thổ thất lưu ngại, thủy vong thanh khiết, dung mạo cốt nhiên, danh chi vi trọc. Nhữ trọc ngũ trọng, diệc phục như thị.

"Thế nào là trược? A-nan, ví như nước trong, bản-nhiên là trong-sạch, lại như những thứ bụi, đất, tro, cát, bản-chất là ngăn-ngại; hai bên bản-nhiên thể-chất khác nhau, không hợp nhau được. Có người thế-gian lấy đất bụi kia, ném vào nước sạch, thì đất mất ngăn-ngại, nước mất trong-sạch, hình-trạng đục-vẩn, gọi đó là trược; năm lớp ô-trược của ông cũng giống như vậy.

Chi 2. - Khai-thị về ngũ-trược.

「阿難!汝見虛空遍十方界,空見不分。有空無體,有見無覺,相織妄成;是第一重名為劫濁。汝身現摶四大為體,見、聞、覺、知壅令留礙,水、火、風、土旋令覺知,相織妄成;是第二重名為見濁。

“A-nan! Nhữ kiến hư không biến thập phương giới, không kiến bất phân. Hữu không vô thể, hữu kiến vô giác, tướng chức vọng thành; thị đệ nhất trọng danh vi kiếp trọc. Nhữ thân hiện đoàn tứ đại vi thể, kiến, văn, giác, tri ủng lệnh lưu ngại, thủy, hỏa, phong, thổ toàn lệnh giác tri, tướng chức vọng thành; thị đệ nhị trọng danh vi kiến trọc.

A-nan, ông thấy hư-không khắp thập phương thế-giới. Bên không, bên thấy, không tách-rời nhau; có cái không mà không thật-thể, có cái thấy mà không hay-biết, hai bên xen-lộn giả-dối thành ra lớp thứ nhất, gọi là kiếp-trược. Thân ông hiện ôm bốn món đại làm tự-thể, che-bít những sự thấy, nghe, hay, biết, thành bị ngăn-ngại và trở lại làm cho các thứ địa, thủy, hỏa, phong, thành có hay-biết; các điều đó xen-lộn giả-dối thành ra lớp thứ hai, gọi là kiến-trược.

又汝心中憶識誦習,性發知見,容現六塵,離塵無相,離覺無性,相織妄成;是第三重名煩惱濁。

Hựu nhữ tâm trung ức thức tụng tập, tính phát tri kiến, dung hiện lục trần, ly trần vô tướng, ly giác vô tính, tướng chức vọng thành; thị đệ tam trọng danh phiền não trọc.

Lại trong tâm ông, những sự nhớ-biết học-tập, phát ra tri-kiến, hiện ra tướng sáu trần, thì những sự đó, rời tiền-trần không có tướng, rời tri-giác không có tính, xen-lộn giả-dối thành ra lớp thứ ba, gọi là phiền-não-trược.

又汝朝夕生滅不停,知見每欲留於世間,業運每常遷於國土,相織妄成;是第四重名眾生濁。

Hựu nhữ triêu tịch sinh diệt bất đình, tri kiến mỗi dục lưu ư thế gian, nghiệp vận mỗi thường thiên ư quốc độ, tướng chức vọng thành; thị đệ tứ trọng danh chúng sinh trọc.

Lại tâm ông ngày đêm sinh-diệt không ngừng, tri-kiến thì muốn lưu mãi ở thế-gian, nhưng nghiệp-báo xoay-vần thì lại thường dời-đổi cõi nầy cõi khác, những điều đó xen-lộn giả-dối thành ra lớp thứ-tư, gọi là chúng-sinh-trược.

汝等見聞元無異性,眾塵隔越,無狀異生,性中相知,用中相背,同異失準,相織妄成;是第五重名為命濁。

Nhữ đẳng kiến văn nguyên vô dị tính, chúng trần cách việt, vô trạng dị sinh, tính trung tương tri, dụng trung tướng bối, đồng dị thất chuẩn, tướng chức vọng thành; thị đệ ngũ trọng danh vi mệnh trọc.

Cái thấy, cái nghe của ông, bản tính vốn không khác nhau, do các trần cách-trở, mà không duyên-cớ gì, lại sinh ra khác nhau; trong tính thì vẫn biết nhau, nhưng trong dụng thì trái-ngược nhau, cái đồng và cái khác đã mất hẳn chuẩn-đích, xen-lộn giả-dối thành ra lớp thứ năm, gọi là mệnh-trược.

Chi 3. - Kết-thành cái tâm tu-nhân

「阿難!汝今欲令見、聞、覺、知遠契如來常、樂、我、淨,應當先擇死生根本,依不生滅圓湛性成,以湛旋其虛妄滅生,伏還元覺,得元明覺無生滅性,為因地心;然後圓成果地修證。如澄濁水貯於淨器,靜深不動,沙土自沈,清水現前,名為初伏客塵煩惱。去泥純水,名為永斷根本無明。明相精純,一切變現不為煩惱,皆合涅槃清淨妙德。

“A-nan! Nhữ kim dục lệnh kiến, văn, giác, tri viễn khế Như-lai thường, lạc, ngã, tịnh, ưng đương tiên trạch tử sinh căn bản, y bất sinh diệt viên trạm tính thành, dĩ trạm toàn kỳ hư vọng diệt sinh, phục hoàn nguyên giác, đắc nguyên minh giác vô sinh diệt tính, vi nhân địa tâm; nhiên hậu viên thành quả địa tu chứng. Như trừng trọc thủy trữ ư tịnh khí, tĩnh thâm bất động, sa thổ tự trầm, thanh thủy hiện tiền, danh vi sơ phục khách trần phiền não. Khứ nê thuần thủy, danh vi vĩnh đoạn căn bản vô minh. Minh tướng tinh thuần, nhất thiết biến hiện bất vi phiền não, giai hợp Niết-bàn thanh tịnh diệu đức.

A-nan, nay ông muốn cho cái sự thấy, nghe, hay, biết, xa xa hợp với bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh của Như-lai, thì trước hết, phải lựa-bỏ cỗi-gốc sống chết, nương theo cái không-sinh-diệt mà thành-tựu tính yên-lặng cùng khắp. Dùng cái yên-lặng mà xoay các thứ sinh-diệt hư-vọng trở về nơi bản-giác, được tính không-sinh-diệt của bản-giác làm cái tâm tu-nhân, thì về sau mới viên-thành chổ tu-chứng của quả-vị. Như lắng nước đục đựng trong một cái đồ để yên, để yên mãi không lay-động, thì đất cát tự chìm xuống và nước trong hiện ra, thế gọi là bắt đầu uốn-dẹp các khách-trần phiền-não; gạn bùn hết sạch, chỉ còn nước trong, thì gọi là dứt hẳn căn-bản vô-minh; tướng sáng-suốt đã tinh-thuần, thì tất-cả các điều biến-hiện đều không gây ra phiền-não và hợp với đức mầu thanh-tịnh của Niết-bàn.

ĐOẠN III - XÉT RÕ CỖI-GỐC PHIỀN-NÃO

Chi 1. - Xét chỗ điên-đảo nơi căn và trần

「第二義者,汝等必欲發菩提心,於菩薩乘生大勇猛,決定棄捐諸有為相,應當審詳煩惱根本。此無始來發業潤生,誰作誰受?

“Đệ nhị nghĩa giả, nhữ đẳng tất dục phát Bồ-đề tâm, ư Bồ-tát thừa sinh đại dũng mãnh, quyết định khí quyên chư hữu vi tướng, ưng đương thẩm tường phiền não căn bản. Thử vô thủy lai phát nghiệp nhuận sinh, thùy tác thùy thọ?

Nghĩa thứ hai là các ông quyết muốn phát-tâm Bồ-đề, nơi thừa Bồ-tát, sinh lòng đại-dũng-mãnh, quyết-định rời-bỏ các tướng hữu-vi, thì nên xét rõ cỗi-gốc phiền-não, những cái vô-minh phát-nghiệp và nhuận-sinh vô-thủy đó, là ai làm, ai chịu?

阿難!汝修菩提,若不審觀煩惱根本,則不能知虛妄根塵何處顛倒?處尚不知,云何降伏取如來位?

A-nan! Nhữ tu Bồ-đề, nhược bất thẩm quán phiền não căn bản, tắc bất năng tri hư vọng căn trần hà xứ điên đảo? Xứ thượng bất tri, vân hà hàng phục thủ Như-lai vị?

A-nan, ông tu đạo Bồ-đề, nếu không suy-xét cỗi-gốc phiền-não, thì không thể biết những căn-trần phiền-não, thì không thể biết những căn-trần hư-vọng, nó điên-đảo ở chỗ nào; chỗ điên-đảo còn không biết, thì làm sao uốn-dẹp được nó và chứng được quả-vị Như-lai.

阿難!汝觀世間解結之人,不見所結,云何知解?不聞虛空被汝隳裂。何以故?空無相形,無結、解故。則汝現前眼、耳、鼻、舌、及與身、心,六為賊媒,自劫家寶;由此無始眾生世界生纏縛故,於器世間不能超越。

A-nan! Nhữ quán thế gian giải kết chi nhân, bất kiến sở kết, vân hà tri giải? Bất văn hư không bị nhữ huy liệt. Hà dĩ cố? Không vô tướng hình, vô kết, giải cố. Tắc nhữ hiện tiền nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, cập dữ thân, tâm, lục vi tặc môi, tự kiếp gia bảo; do thử vô thủy chúng sinh thế giới sinh triền phược cố, ư khí thế gian bất năng siêu việt.

A-nan, ông hãy xem người thế-gian cởi nút, hễ không thấy chỗ thắt nút, thì không biết cởi, chứ không hề nghe hư-không bị phá-tan; vì sao? Vì hư-không không có hình-tướng, không thắt, không cởi vậy. Thì như ông hiện nay, sáu thứ nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý làm mai-mối cho giặc, tự cướp của báu trong nhà; do đó, từ vô-thủy, thế-giới chúng-sinh sinh ra ràng-buộc, không thể vượt khỏi thế-gian sự vật.

Chi 2. - Chỉ rõ sự ràng-buộc và siêu-thoát của thế-giới chúng-sinh.

「阿難!云何名為眾生世界?世為遷流,界為方位。汝今當知東、西、南、北、東南、西南、東北、西北、上、下為界,過去、未來、現在為世;方位有十,流數有三。一切眾生織妄相成,身中貿遷,世界相涉。而此界性設雖十方定位可明,世間秖目東、西、南、北;上、下無位,中無定方。四數必明,與世相涉;三四、四三,宛轉十二;流變三疊,一、十、百、千。總括始終,六根之中,各各功德有千二百。

“A-nan! Vân hà danh vi chúng sinh thế giới? Thế vi thiên lưu, giới vi phương vị. Nhữ kim đương tri đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, thượng, hạ vi giới, quá khứ, vị lai, hiện tại vi thế; phương vị hữu thập, lưu số hữu tam. Nhất thiết chúng sinh chức vọng tướng thành, thân trung mậu thiên, thế giới tướng thiệp. Nhi thử giới tính thiết tuy thập phương định vị khả minh, thế gian chỉ mục đông, tây, nam, bắc; thượng, hạ vô vị, trung vô định phương. Tứ số tất minh, dữ thế tướng thiệp; tam tứ, tứ tam, uyển chuyển thập nhị; lưu biến tam điệp, nhất, thập, bách, thiên. Tổng quát thủy chung, lục căn chi trung, các các công đức hữu thiên nhị bách.

A-nan, thế nào gọi là thế-giới chúng-sinh? Thế là dời-đổi, giới là phương-hướng. Nay ông nên biết những phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông-Nam, Tây-Nam, Đông-Bắc, Tây-Bắc, phương trên, phương dưới là giới. Còn quá-khứ, vị-lai, hiện-tại là thế. Phương-hướng có mười, số lưu-chuyển của thời-gian có ba, hết thảy chúng-sinh dệt cái vọng mà thành như vậy; nơi sự dời-đổi trong thân, thế và giới gắn-bó với nhau. Nhưng cái tính của giới đó, tuy là mười phương, song có chỗ nhất-định có thể chỉ rõ, thì thế-gian chỉ nhận phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương Bắc; phía trên, phía dưới, thì không có vị-trí rõ-ràng; ở giữa cũng không có chỗ nhất-định. Số bốn đã rõ rồi, nhân với số thế, thì ba lần bốn, bốn lần ba, xoay-vần là số mười hai, nhân luôn ba lớp, một chục thành trăm, thành nghìn, thì tổng-quát trước sau, ở trong sáu căn, mỗi mỗi có thể có đến một nghìn hai trăm công-năng.

「阿難!汝復於中克定優劣。如眼觀見,後暗、前明,前方全明,後方全暗,左、右傍觀三分之二,統論所作功德不全;三分言功,一分無德,當知眼唯八百功德。

“A-nan! Nhữ phục ư trung khắc định ưu liệt. Như nhãn quán kiến, hậu ám, tiền minh, tiền phương toàn minh, hậu phương toàn ám, tả, hữu bàng quán tam phân chi nhị, thống luận sở tác công đức bất toàn; tam phân ngôn công, nhất phân vô đức, đương tri nhãn duy bát bách công đức.

A-nan, trong sáu căn đó, ông lại xét-định chỗ hơn, chỗ kém. Như nhãn-căn xem-thấy, phía sau thì tối, phía trước thì sáng, phương trước toàn sáng, phương sau toàn tối, kể cả ngó qua bên phải bên trái, thì ba phần chỉ thấy được hai; tóm lại công-năng của nhãn-căn không toàn-vẹn, trong ba phần công-năng thì một phần không có; vậy nên biết nhãn-căn chỉ có tám trăm công-năng.

如耳周聽十方無遺,動若邇遙,靜無邊際,當知耳根圓滿一千二百功德。如鼻嗅聞通出入息,有出有入而闕中交,驗於鼻根三分闕一,當知鼻唯八百功德。

Như nhĩ chu thính thập phương vô di, động nhược nhĩ dao, tĩnh vô biên tế, đương tri nhĩ căn viên mãn nhất thiên nhị bách công đức. Như tỵ khứu văn thông xuất nhập tức, hữu xuất hữu nhập nhi khuyết trung giao, nghiệm ư tỵ căn tam phân khuyết nhất, đương tri tỵ duy bát bách công đức.

Như nhĩ-căn nghe khắp, mười phương không sót, động thì giống như có xa có gần, tĩnh thì không có bờ-bến; vậy nên biết nhĩ-căn đầy-đủ một nghìn hai trăm công-năng. Như tỷ-căn ngửi-biết cả lúc thở ra, thở vào; chỉ có trong lúc thở ra, thở vào mà còn thiếu trong lúc hơi thở giao-tiếp; xét nơi tỷ-căn, ba phần còn thiếu một; vậy nên biết tỷ-căn chỉ có tám trăm công-năng.

如舌宣揚盡諸世間、出世間智,言有方分,理無窮盡,當知舌根圓滿一千二百功德。

Như thiệt tuyên dương tận chư thế gian, xuất thế gian trí, ngôn hữu phương phân, lý vô cùng tận, đương tri thiệt căn viên mãn nhất thiên nhị bách công đức.

Như thiệt-căn phô-bày cùng-tột trí thế-gian và xuất-thế-gian; lời nói có chừng hạn, nhưng lý thì vô-cùng vô-tận; vậy nên biết thiệt-căn đầy-đủ một nghìn hai trăm công-năng.

如身覺觸識於違順,合時能覺,離中不知,離一合雙,驗於身根三分闕一,當知身唯八百功德。

Như thân giác xúc thức ư vi thuận, hợp thời năng giác, ly trung bất tri, ly nhất hợp song, nghiệm ư thân căn tam phân khuyết nhất, đương tri thân duy bát bách công đức.

Như thân-căn biết xúc-trần, biết các cảm-xúc trái và thuận; khi hợp lại thì biết, khi rời ra thì không biết, rời chỉ có một, hợp thì có hai; xét nơi thân-căn, ba phần còn thiếu một; vậy nên biết thân-căn chỉ có tám trăm công-năng.

如意默容十方三世一切世間出世間法,惟聖與凡無不苞容盡其涯際,當知意根圓滿一千二百功德。

Như ý mặc dung thập phương tam thế nhất thiết thế gian xuất thế gian pháp, duy thánh dữ phàm vô bất bao dung tận kỳ nhai tế, đương tri ý căn viên mãn nhất thiên nhị bách công đức.

Như ý-căn thầm-lặng dung-nạp tất-cả các pháp thế-gian, xuất-thế-gian trong mười phương ba đời; dù thánh hay phàm, không pháp nào không bao-dung cùng-tột bờ-bến; vậy nên biết ý-căn đầy-đủ một nghìn hai trăm công-năng.

「阿難!汝今欲逆生死欲流,返窮流根至不生滅;當驗此等六受用根,誰合、誰離?誰深、誰淺?誰為圓通?誰不圓滿?若能於此悟圓通根,逆彼無始織妄業流,得循圓通;與不圓根日劫相倍。我今備顯六湛圓明本所功德,數量如是。隨汝詳擇其可入者,吾當發明令汝增進。十方如來於十八界一一修行,皆得圓滿無上菩提。於其中間,亦無優劣。但汝下劣,未能於中圓自在慧;故我宣揚,令汝但於一門深入,入一無妄,彼六知根一時清淨。」

“A-nan! Nhữ kim dục nghịch sinh tử dục lưu, phản cùng lưu căn chí bất sinh diệt; đương nghiệm thử đẳng lục thọ dụng căn, thùy hợp, thùy ly? Thùy thâm, thùy thiển? Thùy vi viên thông? Thùy bất viên mãn? Nhược năng ư thử ngộ viên thông căn, nghịch bỉ vô thủy chức vọng nghiệp lưu, đắc tuần viên thông; dữ bất viên căn nhật kiếp tướng bội. Ngã kim bị hiển lục trạm viên minh bản sở công đức, số lượng như thị. Tùy nhữ tường trạch kỳ khả nhập giả, ngô đương phát minh lệnh nhữ tăng tiến. Thập phương Như-lai ư thập bát giới nhất nhất tu hành, giai đắc viên mãn vô thượng Bồ-đề. Ư kỳ trung gian, diệc vô ưu liệt. Đãn nhữ hạ liệt, vị năng ư trung viên tự tại tuệ; cố ngã tuyên dương, lệnh nhữ đãn ư nhất môn thâm nhập, nhập nhất vô vọng, bỉ lục tri căn nhất thời thanh tịnh.”

A-nan, nay ông muốn ngược dòng sinh-tử, xoay về tột gốc lưu-chuyển, đến chỗ không sinh-diệt, thì nên xét trong sáu căn hiện đương thụ-dụng, cái gì là hợp, cái gì là ly, cái gì là sâu, cái gì là nông, cái gì là viên-thông, cái gì là không viên-mãn. Nếu ngộ được căn-tính viên-thông nơi đó, ngược lại dòng nghiệp dệt vọng vô-thủy kia và theo được tính viên-thông, thì đối với sự tu-hành nơi cái căn không viên-thông, hiệu-quả xấp bội, một ngày bằng một kiếp. Tôi nay đã chỉ rõ sáu căn viên-minh, vốn có những số-lượng công-năng như thế; tùy ông lựa chọn nơi căn nào, có thể nhập đạo được, thì tôi sẽ phát-minh, để cho ông được tăng-tiến trên đường tu-hành. Thập-phương Như-lai, nơi mười tám giới, mỗi giới đều tu-hành được viên-mãn vô-thượng Bồ-đề; trong các giới đó, cũng không có gì là hơn, là kém. Chỉ vì ông căn-cơ thấp-kém, chưa thể viên-mãn trí-tuệ, tự-tại trong ấy được, nên tôi bảo ông chỉ đi sâu vào một căn, đi sâu đến chỗ không còn vọng-tưởng, thì cả sáu căn kia một thời đều thanh-tịnh".

Chi 3. - Chỉ rõ chỗ hư-vọng của sáu căn

阿難白佛言:「世尊!云何逆流深入一門,能令六根一時清淨?」

A-nan bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Vân hà nghịch lưu thâm nhập nhất môn, năng lệnh lục căn nhất thời thanh tịnh?”

Ông A-nan bạch Phật rằng: "Thưa Thế-tôn, làm sao ngược dòng hư-vọng, đi sâu vào một căn, lại có thể khiến cho sáu căn một thời đều thanh-tịnh?"

佛告阿難:「汝今已得須陀洹果,已滅三界眾生世間見所斷惑;然猶未知根中積生無始虛習,彼習要因修所斷得,何況此中生、住、異、滅分劑頭數?今汝且觀現前六根,為一、為六?

Phật cáo A-nan: “Nhữ kim dĩ đắc Tu-đà-hoàn quả, dĩ diệt tam giới chúng sinh thế gian kiến sở đoạn hoặc; nhiên do vị tri căn trung tích sinh vô thủy hư tập, bỉ tập yếu nhân tu sở đoạn đắc, hà huống thử trung sinh, trụ, dị, diệt phân tễ đầu số? Kim nhữ thả quán hiện tiền lục căn, vi nhất, vi lục?

Phật bảo ông A-nan: "Ông nay đã được quả Tu-đà-hoàn, đã diệt được kiến hoặc của ba cõi thế-gian chúng-sinh, song còn chưa biết những tập-khí hư-vọng chứa-nhóm trong căn từ vô-thủy; các tập-khí kia, phải nhân tu-đạo rồi mới đoạn được, huống chi, trong đó còn có rất nhiều phân-loại, số-mục sinh-trụ dị-diệt.

「阿難!若言一者,耳何不見?目何不聞?頭奚不履?足奚無語?若此六根決定成六,如我今會與汝宣揚微妙法門,汝之六根誰來領受?」

“A-nan! Nhược ngôn nhất giả, nhĩ hà bất kiến? Mục hà bất văn? Đầu hề bất lý? Túc hề vô ngữ? Nhược thử lục căn quyết định thành lục, như ngã kim hội dữ nhữ tuyên dương vi diệu pháp môn, nhữ chi lục căn thùy lai lãnh thọ?”

Nay ông hãy xét sáu căn hiện-tiền là một, hay là sáu. A-nan, nếu nói là một, thì lỗ tai sao không thấy, con mắt sao không nghe, đầu sao không đi, chân sao không nói; còn nếu sáu căn đó quyết-định là sáu, thì như trong Hội nầy, tôi chỉ-dạy pháp-môn nhiệm-mầu cho ông, trong sáu căn của ông, cái gì lĩnh-thụ?"

阿難言:「我用耳聞。」

A-nan ngôn: “Ngã dụng nhĩ văn.”

Ông A-nan bạch: "Tôi dùng lỗ tai nghe".

佛言:「汝耳自聞,何關身、口?口來問義,身起欽承。是故應知,非一終六,非六終一。終不汝根元一、元六,阿難!當知是根非一、非六,由無始來顛倒淪替,故於圓湛一、六義生,汝須陀洹雖得六銷,猶未亡一。

Phật ngôn: “Nhữ nhĩ tự văn, hà quan thân, khẩu? Khẩu lai vấn nghĩa, thân khởi khâm thừa. Thị cố ưng tri, phi nhất chung lục, phi lục chung nhất. Chung bất nhữ căn nguyên nhất, nguyên lục, A-nan! Đương tri thị căn phi nhất, phi lục, do vô thủy lai điên đảo luân thế, cố ư viên trạm nhất, lục nghĩa sinh, nhữ Tu-đà-hoàn tuy đắc lục tiêu, do vị vong nhất.

Phật dạy: "Lỗ tai ông tự nghe, nào dính gì đến thân với miệng, mà miệng ông thì hỏi nghĩa, thân ông thì đứng dậy kính vâng. Vậy nên biết rằng chẳng phải một, mà cuối-cùng thành sáu, chẳng phải sáu, mà cuối-cùng thành một, rốt-cuộc cái căn của ông, vốn không phải là một, hay là sáu. A-nan, ông nên biết cái căn ấy không phải một, không phải sáu; do từ vô-thủy đắm-chấp trái-ngược, nên nơi tính viên-trạm, sinh ra có cái một, cái sáu. Nay ông được quả Tu-đà-hoàn, tuy đã tiêu được cái sáu, nhưng còn chưa quên cái một.

如太虛空參合群器,由器形異名之異空,除器觀空說空為一。彼太虛空,云何為汝成同、不同?何況更名是一、非一?

Như thái hư không tham hợp quần khí, do khí hình dị danh chi dị không, trừ khí quán không thuyết không vi nhất. Bỉ thái hư không, vân hà vi nhữ thành đồng, bất đồng? Hà huống cánh danh thị nhất, phi nhất?

Như cái hư-không, tham-hợp với các khí-mãnh; do hình-trạng khí-mãnh khác nhau, mà gọi là hư-không khác nhau, đến khi trừ-bỏ khí-mãnh mà xem cái hư-không, thì nói hư-không là một; chứ cái hư-không kia, làm sao lại vì ông mà thành đồng hay không đồng, huống nữa, lại gọi là một hay không phải một.

則汝了知六受用根,亦復如是。

Tắc nhữ liễu tri lục thọ dụng căn, diệc phục như thị.

Sáu căn hay-biết của ông thì cũng như vậy.

由明、暗等二種相形,於妙圓中粘湛發見,見精映色,結色成根;根元目為清淨四大,因名眼體,如蒲萄朵,浮根四塵流逸奔色。

Do minh, ám đẳng nhị chủng tướng hình, ư diệu viên trung niêm trạm phát kiến, kiến tinh ánh sắc, kết sắc thành căn; căn nguyên mục vi thanh tịnh tứ đại, nhân danh nhãn thể, như bồ-đào đóa, phù căn tứ trần lưu dật bôn sắc.

Do hai thứ sáng và tối, tỏ-bày lẫn nhau, nơi tính diệu-viên, làm dính tính yên-lặng, phát ra cái thấy; cái thấy ánh ra thành sắc, kết cái sắc lại thành căn, gốc căn, thì gọi là tứ đại thanh-tịnh, nhân gọi hình-thể con mắt như quả bồ-đào; bốn trần của phù-căn rong-ruổi chạy theo sắc.

由動、靜等二種相擊,於妙圓中粘湛發聽,聽精映聲,卷聲成根;根元目為清淨四大,因名耳體,如新卷葉,浮根四塵流逸奔聲。

Do động, tĩnh đẳng nhị chủng tướng kích, ư diệu viên trung niêm trạm phát thính, thính tinh ánh thanh, quyển thanh thành căn; căn nguyên mục vi thanh tịnh tứ đại, nhân danh nhĩ thể, như tân quyển diệp, phù căn tứ trần lưu dật bôn thanh.

Do hai thứ động và tĩnh, đối-chọi lẫn nhau, nơi tính diệu-viên, làm dính tính yên-lặng, phát ra cái nghe; cái nghe ánh ra thành tiếng, cuốn cái tiếng lại thành căn, gốc căn, thì gọi là tứ đại thanh-tịnh, nhân gọi hình-thể cái tai như lá mới cuốn; bốn trần của phù-căn rong-ruổi chạy theo tiếng.

由通、塞等二種相發,於妙圓中粘湛發嗅,嗅精映香,納香成根;根元目為清淨四大,因名鼻體,如雙垂爪,浮根四塵流逸奔香。

Do thông, tắc đẳng nhị chủng tướng phát, ư diệu viên trung niêm trạm phát khứu, khứu tinh ánh hương, nạp hương thành căn; căn nguyên mục vi thanh tịnh tứ đại, nhân danh tỵ thể, như song thùy trảo, phù căn tứ trần lưu dật bôn hương.

Do hai thứ thông và bịt, phát-hiện lẫn nhau, nơi tính diệu-viên, làm dính tính yên-lặng, phát ra cái ngữi; cái ngửi ánh ra thành hương, thu-nạp cái hương thành căn, gốc căn, thì gọi đó là tứ đại thanh-tịnh, nhân gọi hình-thể cái mủi như hai móng tay rủ xuống; bốn trần của phù-căn rong-ruổi chạy theo hương.

由恬、變等二種相參,於妙圓中粘湛發嘗,嘗精映味,絞味成根;根元目為清淨四大,因名舌體,如初偃月,浮根四塵流逸奔味。

Do điềm, biến đẳng nhị chủng tướng tham, ư diệu viên trung niêm trạm phát thường, thường tinh ánh vị, giảo vị thành căn; căn nguyên mục vi thanh tịnh tứ đại, nhân danh thiệt thể, như sơ yển nguyệt, phù căn tứ trần lưu dật bôn vị.

Do hai thứ nhạt và có vị, tham-chước lẫn nhau, nơi tính diệu-viên, làm dính tính yên-lặng, phát ra cái nếm; cái nếm ánh ra thành vị, thưởng-thức cái vị thành, thưởng-thức cái vị thành căn, gốc căn, thì gọi là tứ đại thanh-tịnh, nhân gọi là tứ đại thanh-tịnh, nhân gọi hình-thể cái lưỡi như mặt trăng mới khuyết; bốn trần của phù-căn rong-ruổi chạy theo vị.

由離、合等二種相摩,於妙圓中粘湛發覺,覺精映觸,搏觸成根;根元目為清淨四大,因名身體,如腰鼓顙,浮根四塵流逸奔觸。

Do ly, hợp đẳng nhị chủng tướng ma, ư diệu viên trung niêm trạm phát giác, giác tinh ánh xúc, bác xúc thành căn; căn nguyên mục vi thanh tịnh tứ đại, nhân danh thân thể, như yêu cổ tảng, phù căn tứ trần lưu dật bôn xúc.

Do hai thứ ly và hợp, so-sánh lẫn nhau, nơi tính diệu-viên, làm dính tính yên-lặng, phát ra cái biết xúc; cái biết xúc ánh ra thành xúc, ôm-nắm cái xúc thành căn, gốc căn, thì gọi là tứ đại thanh-tịnh, nhân gọi hình-thể cái thân như dáng trống cơm, bốn trần của phù-căn rong-ruổi chạy theo xúc.

由生、滅等二種相續,於妙圓中粘湛發知,知精映法,覽法成根;根元目為清淨四大,因名意思,如幽室見,浮根四塵流逸奔法。

Do sinh, diệt đẳng nhị chủng tương tục, ư diệu viên trung niêm trạm phát tri, tri tinh ánh pháp, lãm pháp thành căn; căn nguyên mục vi thanh tịnh tứ đại, nhân danh ý tư, như u thất kiến, phù căn tứ trần lưu dật bôn pháp.

Do hai thứ sinh và diệt, tiếp-tục lẩn nhau, nơi tính diệu-viên, làm dính tính yên-lặng, phát ra cái biết; cái biết ánh ra thành các pháp, tóm-thu các pháp thành căn, gốc căn, thì gọi là tứ đại thanh-tịnh, nhân gọi cái ý như cái thấy trong phòng tối; bốn trần của phù-căn rong-ruổi chạy theo pháp".

Chi 4. - Chỉ ra hư-vọng không thật. Phát-minh chân-tính thì viên-thoát.

「阿難!如是六根,由彼覺明有明明覺,失彼精了粘妄發光。是以汝今離暗、離明無有見體,離動、離靜元無聽質,無通、無塞嗅性不生,非變、非恬嘗無所出,不離、不合覺觸本無,無滅、無生了知安寄!

“A-nan! Như thị lục căn, do bỉ giác minh hữu minh minh giác, thất bỉ tinh liễu niêm vọng phát quang. Thị dĩ nhữ kim ly ám, ly minh vô hữu kiến thể, ly động, ly tĩnh nguyên vô thính chất, vô thông, vô tắc khứu tính bất sinh, phi biến, phi điềm thường vô sở xuất, bất ly, bất hợp giác xúc bản vô, vô diệt, vô sinh liễu tri an ký!

"A-nan, sáu căn như vậy do tính giác-minh kia chuyển thành minh-giác, mất tính sáng-suốt, dính với cái vọng mà phát ra hay-biết. Vậy nên ông nay rời sáng rời tối, thì không có cái thấy, rời động rời tĩnh, thì không có cái nghe, không thông không bịt, thì cái ngửi không sinh, không vị không nhạt, thì cái nếm không phát ra, không ly không hợp, thì cái biết xúc vốn không, không diệt không sinh, thì cái rõ-biết không gá vào đâu.

汝但不循動靜、合離、恬變、通塞、生滅、暗明,如是十二諸有為相;隨拔一根,脫粘內伏,伏歸元真,發本明耀,耀性發明,諸餘五粘應拔圓脫,

Nhữ đãn bất tuần động tĩnh, hợp ly, điềm biến, thông tắc, sinh diệt, ám minh, như thị thập nhị chư hữu vi tướng; tùy bạt nhất căn, thoát niêm nội phục, phục quy nguyên chân, phát bản minh diệu, diệu tính phát minh, chư dư ngũ niêm ưng bạt viên thoát,

Ông chỉ đi theo những động-tĩnh, hợp-ly, không vị có vị, thông bịt, sáng tối, sinh diệt, cả mười hai tướng hữu-vi đó, đi đến rút được một căn ra khỏi cái dính, phục vào bên trong, phục trở về tính bản-chân, phát ra tính sáng-suốt bản-lai; tính sáng-suốt đó đã phát-minh, thì năm chỗ dính khác cũng liền đó được giải-thoát.

不由前塵所起知見。明不循根,寄根明發,由是六根互相為用。

Bất do tiền trần sở khởi tri kiến. Minh bất tuần căn, ký căn minh phát, do thị lục căn hỗ tướng vi dụng.

Không do tiền-trần mà khởi ra tri-kiến thì cái sáng-suốt không đi theo căn, chỉ gửi nơi căn mà phát ra; nhân đó sáu căn có thể dùng thay lẫn nhau.

「阿難!汝豈不知今此會中,阿那律陀無目而見;跋難陀龍無耳而聽;殑伽神女非鼻聞香;驕梵鉢提異舌知味;舜若多神無身有觸,如來光中映令暫現,既為風質,其體元無;諸滅盡定得寂聲聞,如此會中摩訶迦葉,久滅意根,圓明了知不因心念。

“A-nan! Nhữ khởi bất tri kim thử hội trung, A-na-luật đà vô mục nhi kiến; Bạt-nan-đà long vô nhĩ nhi thính; Căng-già thần nữ phi tỵ văn hương; Kiều-phạm-bát-đề dị thiệt tri vị; Thuấn-nhã-đa thần vô thân hữu xúc, Như-lai quang trung ánh lệnh tạm hiện, ký vi phong chất, kỳ thể nguyên vô; chư diệt tận định đắc tịch thanh văn, như thử hội trung Ma-ha Ca-diếp, cửu diệt ý căn, viên minh liễu tri bất nhân tâm niệm.

A-nan, há ông không biết ở trong Hội nầy, ông A-na-luật-đà không có mắt mà thấy, rồng Bạt-nan-đà không có tai mà nghe, thần-nữ Căng-già không có mũi mà nghe hương, ông Kiều-phạm-bát-đề lưỡi khác mà biết vị, thần Thuấn-nhã-đa không có thân mà biết xúc, do hào-quang Như-lai ánh ra, làm cho ông ấy tạm-thời hiện ra có thân, chứ bản-chất của ông là gió, thì thân-thể vốn không có; các vị Thanh-văn được tịch-diệt trong diệt-tận-định, như ông Ma-ha-ca-diếp trong Hội nầy, đã diệt ý-căn lâu rồi mà vẫn rõ-biết cùng khắp, không nhân tâm-niệm.

阿難!今汝諸根若圓拔已,內瑩發光;如是浮塵及器世間諸變化相,如湯銷氷,應念化成無上知覺。

A-nan! Kim nhữ chư căn nhược viên bạt dĩ, nội oánh phát quang; như thị phù trần cập khí thế gian chư biến hóa tướng, như thang tiêu băng, ưng niệm hóa thành vô thượng tri giác.

A-nan, nếu các căn của ông đều được giải-thoát trọn-đủ, thì cái sáng-suốt trong tâm-tính phát ra; như thế, thì các phù-trần và các tướng biến-hoá trong thế-gian sự vật đều tiêu mất, như giá gặp nước sôi, ngay đó, liền hóa-thành vô-thượng tri-giác.

阿難!如彼世人聚見於眼,若令急合,暗相現前。六根黯然,頭足相類。彼人以手循體外繞,彼雖不見,頭足一辯,知覺是同。

A-nan! Như bỉ thế nhân tụ kiến ư nhãn, nhược lệnh cấp hợp, ám tướng hiện tiền. Lục căn ảm nhiên, đầu túc tương loại. Bỉ nhân dĩ thủ tuần thể ngoại nhiễu, bỉ tuy bất kiến, đầu túc nhất biện, tri giác thị đồng.

A-nan, như người thế-gian kia, nhóm cái thấy nơi con mắt; nếu bảo nhắm kín, thì tướng tối hiện ra, cả sáu căn đều tối, đầu và chân giống nhau. Người kia lấy tay rờ quanh ngoài thân-thể, thì tuy không thấy, nhưng một phen nhận được đầu và chân rồi, thì cái hay-biết vẫn đồng như trước kia.

緣見因明,暗成無見;不明自發,則諸暗相永不能昏。根塵既銷,云何覺明不成圓妙?」

Duyên kiến nhân minh, ám thành vô kiến; bất minh tự phát, tắc chư ám tướng vĩnh bất năng hôn. Căn trần ký tiêu, vân hà giác minh bất thành viên diệu?”

Duyên vì cái thấy nhân nơi sáng, nên khi tối thành ra không thấy, chứ không có sáng mà tự phát ra cái thấy, thì các thứ tối hẳn không thể làm mờ được. Căn và trần đã tiêu rồi, làm sao tính giác-minh lại không thành nhiệm-mầu cùng khắp".

MỤC XII - ĐÁNH CHUÔNG THẬT-NGHIỆM TÍNH-THƯỜNG

ĐOẠN I - NGHI CĂN-TÍNH KHÔNG CÓ TỰ-THỂ

阿難白佛言:「世尊!如佛說言『因地覺心欲求常住,要與果位名目相應』,世尊!如果位中,菩提、涅槃、真如、佛性、菴摩羅識、空如來藏、大圓鏡智,是七種名稱謂雖別,清淨圓滿體性堅凝,如金剛王常住不壞。

A-nan bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Như Phật thuyết ngôn ‘nhân địa giác tâm dục cầu thường trụ, yếu dữ quả vị danh mục tướng ưng’, Thế-tôn! Như quả vị trung, Bồ-đề, Niết-bàn, chân như, Phật tính, am-ma-la thức, không Như-lai tàng, đại viên kính trí, thị thất chủng danh xưng vị tuy biệt, thanh tịnh viên mãn thể tính kiên ngưng, như kim cương vương thường trụ bất hoại.

Ông A-nan bạch Phật rằng: "Bạch Thế-tôn, như lời Phật dạy, chỗ phát-tâm cầu được thường-trụ trong lúc tu-nhân, cốt-yếu cần phải cân-xứng với những đức-tính trong lúc chứng-quả. Bạch Thế-tôn, như trong quả-vị, nào là Bồ-đề, Niết-bàn, Chân-như, Phật-tính, Am-ma-la-thức, Không-như-lai-tạng, Đại-viên-kính-trí; bảy thứ danh-hiệu tuy có khác nhau, nhưng thể-tính đều thanh-tịnh viên-mãn, vững-chắc như Kim-cương-vương, thường-trụ, không hư-nát.

若此見、聽離於暗明、動靜、通塞,畢竟無體;猶如念心離於前塵,本無所有。云何將此畢竟斷滅以為修因,欲獲如來七常住果?世尊!若離明暗,見畢竟空,如無前塵,念自性滅。進退循環,微細推求,本無我心及我心所,將誰立因求無上覺?如來先說湛精圓常,違越誠言,終成戲論;云何如來真實語者?唯垂大慈開我蒙悋!」

Nhược thử kiến, thính ly ư ám minh, động tĩnh, thông tắc, tất cánh vô thể; do như niệm tâm ly ư tiền trần, bản vô sở hữu. Vân hà tương thử tất cánh đoạn diệt dĩ vi tu nhân, dục hoạch Như-lai thất thường trụ quả? Thế-tôn! Nhược ly minh ám, kiến tất cánh không, như vô tiền trần, niệm tự tính diệt. Tiến thoái tuần hoàn, vi tế suy cầu, bản vô ngã tâm cập ngã tâm sở, tương thùy lập nhân cầu vô thượng giác? Như-lai tiên thuyết trạm tinh viên thường, vi việt thành ngôn, chung thành hí luận; vân hà Như-lai chân thực ngữ giả? Duy thùy đại từ khai ngã mông lận!”

Nếu cái thấy nghe, ngoài những tướng sáng tối, động tĩnh, thông bịt, rốt-ráo không có tự-thể cũng như cái tâm-niệm, rời tiền-trần ra, vốn không có gì, thì làm sao lại đem cái rốt-ráo đoạn-diệt ấy làm cái nhân tu-hành, để được bảy quả thường-trụ của Như-lai. Bạch Thế-tôn, nếu rời sáng tối, thì cái thấy rốt-ráo là không; nếu không có tiền-trần, thì tự-tính tâm-niệm diệt mất, lui tới vần-xoay, suy-xét chín-chắn, vốn không có tâm tôi và tâm sở của tôi; vậy đem cái gì làm nhân, để cầu được vô-thượng-giác. Đức Như-lai trước kia nói cái tính hay-biết yên-lặng là viên-mãn thường-trụ, nhưng đã trái với lẽ thường, thì rốt-cuộc chỉ thành hý-luận, làm sao nhận được lời nói Như-lai là chân-thậnt. Xin Phật rủ lòng đại-từ, mở chỗ mê-chấp cho tôi".

ĐOẠN II - CHỈ RA TÍNH-NGHE LÀ THƯỜNG-TRỤ

佛告阿難:「汝學多聞,未盡諸漏,心中徒知顛倒所因,真倒現前實未能識。恐汝誠心猶未信伏,吾今試將塵俗諸事,當除汝疑。」即時如來勅羅睺羅擊鍾一聲,問阿難言:「汝今聞不?」

Phật cáo A-nan: “Nhữ học đa văn, vị tận chư lậu, tâm trung đồ tri điên đảo sở nhân, chân đảo hiện tiền thực vị năng thức. Khủng nhữ thành tâm do vị tín phục, ngô kim thí tương trần tục chư sự, đương trừ nhữ nghi.” Tức thời Như-lai sắc La-hầu-la kích chung nhất thanh, vấn A-nan ngôn: “Nhữ kim văn phủ?”

Phật bảo ông A-nan rằng: "Ông học về mặt nghe nhiều, chưa hết các điều lậu-lạc, trong tâm chỉ biết suông cái nhân điên-đảo mà cái điên-đảo hiện-thật trước đó thì chưa biết được, e ông thành-thật còn chưa tin-phục. Nay tôi thử đem những việc trần-tục để trừ cái nghi của ông." Khi bấy giờ, đức Như-lai bảo ông La-hầu-la đánh một tiếng chuông, rồi hỏi ông A-nan rằng: "Nay ông có nghe chăng?"

阿難、大眾俱言:「我聞。」

A-nan, đại chúng câu ngôn: “Ngã văn.”

Ông A-nan và đại-chúng đều nói: "Có nghe".

鍾歇無聲,佛又問言:「汝今聞不?」

Chung hiết vô thanh, Phật hựu vấn ngôn: “Nhữ kim văn phủ?”

Chuông hết kêu, không tiếng, Phật lại hỏi rằng: "Nay ông có nghe chăng?"

阿難、大眾俱言:「不聞。」

A-nan, đại chúng câu ngôn: “Bất văn.”

Ông A-nan và đại-chúng đều đáp: "Không nghe".

時羅睺羅又擊一聲,佛又問言:「汝今聞不?」

Thời La-hầu-la hựu kích nhất thanh, Phật hựu vấn ngôn: “Nhữ kim văn phủ?”

Khi đó, ông La-hầu-la lại đánh một tiếng, Phật lại hỏi rằng: "Nay ông có nghe chăng?"

阿難、大眾又言:「俱聞。」

A-nan, đại chúng hựu ngôn: “Câu văn.”

Ông A-nan và đại-chúng đều đáp: "Có nghe".

佛問阿難:「汝云何聞?云何不聞?」

Phật vấn A-nan: “Nhữ vân hà văn? Vân hà bất văn?”

Phật hỏi ông A-nan: "Thế nào, thì ông có nghe, còn thế nào, thì ông không nghe?"

阿難、大眾俱白佛言:「鍾聲若擊則我得聞;擊久聲銷,音響雙絕,則名無聞。」

A-nan, đại chúng câu bạch Phật ngôn: “Chung thanh nhược kích tắc ngã đắc văn; kích cửu thanh tiêu, âm hưởng song tuyệt, tắc danh vô văn.”

Ông A-nan và đại-chúng đều bạch Phật rằng: "Tiếng chuông nếu đánh lên, thì chúng tôi được nghe; đánh lâu tiếng hết, tăm-vang đều không còn, thì gọi là không nghe."

如來又勅羅睺擊鍾,問阿難言:「爾今聲不?」

Như-lai hựu sắc La-hầu kích chung, vấn A-nan ngôn: “Nhĩ kim thanh phủ?”

Như-lai lại bảo ông La-hầu-la đánh chuông, rồi hỏi ông A-nan rằng: "Theo ông, nay có tiếng không?"

阿難、大眾俱言:「有聲。」

A-nan, đại chúng câu ngôn: “Hữu thanh.”

Ông A-nan và đại-chúng đều nói: "Có tiếng".

少選聲銷,佛又問言:「爾今聲不?」

Thiểu tuyển thanh tiêu, Phật hựu vấn ngôn: “Nhĩ kim thanh phủ?”

Ít lâu tiếng dứt, Phật lại hỏi rằng: "Theo ông, nay có tiếng không?"

阿難、大眾答言:「無聲。」有頃,羅睺更來撞鍾,佛又問言:「爾今聲不?」

A-nan, đại chúng đáp ngôn: “Vô thanh.” Hữu khoảnh, La-hầu cánh lai tràng chung, Phật hựu vấn ngôn: “Nhĩ kim thanh phủ?”

Ông A-nan và đại-chúng đều đáp: "Không tiếng." Lát sau, ông La-hầu-la lại đánh chuông, Phật lại hỏi rằng: "Theo ông, nay có tiếng không?"

阿難、大眾俱言:「有聲。」

A-nan, đại chúng câu ngôn: “Hữu thanh.”

Ông A-nan và đại-chúng đều nói: "Có tiếng".

佛問阿難:「汝云何聲?云何無聲?」

Phật vấn A-nan: “Nhữ vân hà thanh? Vân hà vô thanh?”

Phật hỏi ông A-nan: "Thế nào, ông gọi là có tiếng, còn thế nào, thì gọi là không tiếng?"

阿難、大眾俱白佛言:「鍾聲若擊則名有聲;擊久聲銷,音響雙絕,則名無聲。」

A-nan, đại chúng câu bạch Phật ngôn: “Chung thanh nhược kích tắc danh hữu thanh; kích cửu thanh tiêu, âm hưởng song tuyệt, tắc danh vô thanh.”

Ông A-nan và đại-chúng đều bạch Phật rằng: "Tiếng chuông, nếu đánh lên, thì gọi là có tiếng, đánh lâu tiếng hết, tăm-vang đều không còn, thì gọi là không tiếng".

佛語阿難及諸大眾:「汝今云何自語矯亂?」

Phật ngữ A-nan cập chư đại chúng: “Nhữ kim vân hà tự ngữ kiểu loạn?”

Phật bảo ông A-nan và đại-chúng rằng: "Hôm nay các ông sao nói trái-ngược, lộn-xộn như thế?"

大眾、阿難俱時問佛:「我今云何名為矯亂?」

Đại chúng, A-nan câu thời vấn Phật: “Ngã kim vân hà danh vi kiểu loạn?”

Đại-chúng và ông A-nan đồng-thời bạch Phật: "Làm sao Phật bảo chúng tôi trái-ngược lộn-xộn?"

佛言:「我問汝聞,汝則言聞;又問汝聲,汝則言聲。惟聞與聲報答無定,如是云何不名矯亂?阿難!聲銷無響,汝說無聞;若實無聞,聞性已滅同于枯木,鍾聲更擊,汝云何知?知有、知無,自是聲塵或無、或有,豈彼聞性為汝有、無?聞實云無,誰知無者?

Phật ngôn: “Ngã vấn nhữ văn, nhữ tắc ngôn văn; hựu vấn nhữ thanh, nhữ tắc ngôn thanh. Duy văn dữ thanh báo đáp vô định, như thị vân hà bất danh kiểu loạn? A-nan! Thanh tiêu vô hưởng, nhữ thuyết vô văn; nhược thực vô văn, văn tính dĩ diệt đồng vu khô mộc, chung thanh cánh kích, nhữ vân hà tri? Tri hữu, tri vô, tự thị thanh trần hoặc vô, hoặc hữu, khởi bỉ văn tính vi nhữ hữu, vô? Văn thực vân vô, thùy tri vô giả?

Phật dạy: "Tôi hỏi ông về nghe, thì ông nói là nghe, tôi hỏi về tiếng, thì ông nói là tiếng, chỉ cái nghe và cái tiếng mà trả lời không nhất-định như thế, sao lại không gọi là trái-ngược lộn-xộn? A-nan, tiếng tiêu mất, không tăm vang, thì ông gọi là không nghe; nếu thật không nghe, thì tính-nghe đã diệt rồi đồng như cây khô, khi tiếng chuông lại đánh lên, làm sao ông còn biết được. Biết có, biết không là tự cái tiếng hoặc không, hoặc có, đâu phải tính-nghe kia vì đó mà có, mà không; nếu tính-nghe thật là không, thì còn cái gì biết là không nữa.

是故阿難!聲於聞中自有生滅;非為汝聞聲生、聲滅,令汝聞性為有、為無。汝尚顛倒,惑聲為聞,何怪昏迷,以常為斷?終不應言離諸動靜、閉塞、開通,說聞無性。

Thị cố A-nan! Thanh ư văn trung tự hữu sinh diệt; phi vi nhữ văn thanh sinh, thanh diệt, lệnh nhữ văn tính vi hữu, vi vô. Nhữ thượng điên đảo, hoặc thanh vi văn, hà quái hôn mê, dĩ thường vi đoạn? Chung bất ưng ngôn ly chư động tĩnh, bế tắc, khai thông, thuyết văn vô tính.

Vậy nên A-nan, cái tiếng ở trong cái nghe tự có sinh, có diệt, không phải vì ông nghe cái tiếng sinh diệt, mà làm cho tính-nghe của ông thành có, thành không. Ông còn lộn-lạo, lầm cái tiếng làm cái nghe, lạ gì chẳng mê mờ, lấy cái thường làm cái đoạn. Tóm lại, ông không nên nói rằng rời các thứ động tĩnh, đóng mở, thông bịt, thì cái nghe không có tính.

如重睡人眠熟床枕,其家有人於彼睡時擣練、舂米,其人夢中聞舂擣聲別作他物,或為擊鼓,或復撞鍾;即於夢時,自怪其鍾為木石響。於時忽寤,遄知杵音。自告家人:『我正夢時,惑此舂音將為鼓響。』阿難!是人夢中,豈憶靜搖、開閉、通塞?其形雖寐,聞性不昏。縱汝形銷命光遷謝,此性云何為汝銷滅?

Như trọng thụy nhân miên thục sàng chẩm, kỳ gia hữu nhân ư bỉ thụy thời đảo luyện, thung mễ, kỳ nhân mộng trung văn thung đảo thanh biệt tác tha vật, hoặc vi kích cổ, hoặc phục tràng chung; tức ư mộng thời, tự quái kỳ chung vi mộc thạch hưởng. Ư thời hốt ngụ, thuyên tri xử âm. Tự cáo gia nhân: ‘Ngã chính mộng thời, hoặc thử thung âm tương vi cổ hưởng.’ A-nan! Thị nhân mộng trung, khởi ức tĩnh dao, khai bế, thông tắc? Kỳ hình tuy mị, văn tính bất hôn. Túng nhữ hình tiêu mệnh quang thiên tạ, thử tính vân hà vi nhữ tiêu diệt?

Như người ngủ mê, nằm trên giường gối; trong nhà có người, trong lúc người kia ngủ, giã một cối gạo; người ấy trong chiêm-bao nghe tiếng giã gạo, lầm thành vật khác, hoặc cho là đánh trống, hoặc cho là đánh chuông. Tức trong chiêm-bao người ấy cũng lấy làm lạ rằng sao tiếng chuông lại vang lên như cây, như đá. Khi chợt tỉnh-dậy, liền nghe tiếng chày, thì người ấy tự bảo người nhà rằng chính trong lúc chiêm-bao, tôi đã lầm tiếng chày nầy là tiếng trống. A-nan, người đó, trong chiêm-bao, đâu nhớ những chuyện động tĩnh, đóng mở, thông-bịt; hình người kia tuy ngủ nhưng tính-nghe không mờ, dầu cho hình ông tiêu-tan, thân-mạng dời-đổi diệt mất, làm sao tính-nghe ấy lại vì ông mà tiêu-diệt được.

以諸眾生從無始來,循諸色、聲逐念流轉,曾不開悟性淨妙常。不循所常,逐諸生滅,由是生生雜染流轉。

Dĩ chư chúng sinh tùng vô thủy lai, tuần chư sắc, thanh trục niệm lưu chuyển, tằng bất khai ngộ tính tịnh diệu thường. Bất tuần sở thường, trục chư sinh diệt, do thị sinh sinh tạp nhiễm lưu chuyển.

Do các chúng-sinh, từ vô-thủy đến nay, đi theo sắc thanh, theo niệm mà lưu-chuyển, không hề khai-ngộ bản-tính thanh-tịnh diệu-thường; không theo cái thường, chỉ theo các thứ sinh-diệt, do đó, đời đời bị tạp-nhiễm mà phải lưu-chuyển.

若棄生滅,守於真常,常光現前,塵根、識心應時銷落。想相為塵,識情為垢,二俱遠離;則汝法眼應時清明,云何不成無上知覺?」

Nhược khí sinh diệt, thủ ư chân thường, thường quang hiện tiền, trần căn, thức tâm ưng thời tiêu lạc. Tưởng tướng vi trần, thức tình vi cấu, nhị câu viễn ly; tắc nhữ pháp nhãn ưng thời thanh minh, vân hà bất thành vô thượng tri giác?”

Nếu bỏ cái sinh-diệt, giữ tính chân-thường; cái sáng-suốt chân-thường hiện-tiền, thì các tâm-niệm căn, trần, thức, ngay đó đều tiêu mất; tướng vọng-tưởng là trần, tính phân-biệt là cấu, hai cái đó đã xa-rời, thì pháp-nhãn của ông liền được trong-suốt, làm sao lại không thành bậc vô-thượng tri-giác?"

大佛頂萬行首楞嚴經卷第四

Đại Phật đỉnh vạn hạnh Thủ-lăng-nghiêm kinh quyển đệ tứ

(Hết Quyển Bốn — bản dịch không có dòng kết quyển tương ứng)

Hết Quyển Bốn

Tìm kinh, kệ, chú, truyện, pháp âm…