Quyển Nhất

QUYỂN NHẤT

ĐỀ-MỤC KINH

大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經卷第一大唐神龍元年龍集乙巳五月己卯朔二十三日辛丑中天竺沙門般剌蜜帝於廣州制止道場譯出菩薩戒弟子前正諫大夫同中書門下平章事清河房融筆授烏長國沙門彌伽釋迦譯語

Đại Phật đỉnh Như-lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ-tát vạn hạnh Thủ-lăng-nghiêm kinh quyển đệ nhất Đại Đường Thần Long nguyên niên long tập Ất Tỵ ngũ nguyệt Kỷ Mão sóc nhị thập tam nhật Tân Sửu trung Thiên-trúc sa môn Bát-lạt-mật-đế ư Quảng Châu Chế Chỉ đạo tràng dịch xuất Bồ-tát giới đệ tử tiền chính gián đại phu đồng trung thư môn hạ bình chương sự Thanh Hà Phòng Dung bút thụ Ô-trường quốc sa môn Di-già-thích-ca dịch ngữ

Kinh Đại-Phật-đỉnh, Như-lai mật-nhân, tu-chứng liễu-nghĩa, chư Bồ-tát vạn-hạnh, Thủ-lăng-nghiêm (Suramgama), gọi tắt là Kinh Thủ-lăng-nghiêm.

Sa-môn tên là Bát-lạt-mật-đế, người Thiên-trúc dịch.

Sa-môn tên là Di-già-thích-ca người Ô-trành, dịch theo tiếng Trung-quốc.

Đệ-tử thụ Bồ-tát-giới, tên là Phòng-Dung, chức Đồng-trung-thư môn-hạ Bình-chương-sự, ghi-chép lời dịch.

PHẦN THỨ NHẤT - PHẦN TỰA

CHƯƠNG I - TỰA CHUNG

如是我聞:一時,佛在室羅筏城祇桓精舍,與大比丘眾千二百五十人俱,皆是無漏大阿羅漢——佛子住持,善超諸有,能於國土成就威儀;從佛轉輪,妙堪遺囑,嚴淨毘尼,弘範三界;應身無量,度脫眾生,拔濟未來,越諸塵累。——其名曰大智舍利弗、摩訶目犍連、摩訶拘絺羅、富樓那彌多羅尼子、須菩提、優波尼沙陀等而為上首。

Như thị ngã văn: Nhất thời, Phật tại Thất-la-phiệt thành Kỳ-hoàn tinh xá, dữ đại tỳ-kheo chúng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu, giai thị vô lậu đại A-la-hán——Phật tử trụ trì, thiện siêu chư hữu, năng ư quốc độ thành tựu uy nghi; tùng Phật chuyển luân, diệu kham di chúc, nghiêm tịnh tỳ-ni, hoằng phạm tam giới; ứng thân vô lượng, độ thoát chúng sinh, bạt tế vị lai, việt chư trần lụy.——Kỳ danh viết đại trí Xá-lợi-phất, Ma-ha Mục-kiền-liên, Ma-ha Câu-hy-la, Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử, Tu-bồ-đề, Ưu-ba-ni-sa-đà đẳng nhi vi thượng thủ.

Như vậy tôi được nghe trong một thời, Phật ở tịnh xá Kỳ-Hoàn thành Thất-La-Phiệt, cùng với chúng đại-tỷ-khưu một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc vô lậu Đại-A-la-hán. Các vị phật-tử trụ-trì, khéo vượt trên chư hữu, ở các quốc-độ đầy-đủ uy-nghi, theo Phật chuyển Pháp-luân, có khả-năng thật-hiện lời di-chúc nhiệm-mầu của Phật, nghiêm-giữ giới-luật thanh-tịnh để làm khuôn phép cho ba cõi, hiện thân vô số, cứu-vớt chúng-sinh, tột đời vị-lai, khỏi các trần-lụy. Các vị tên là : Đại-trí Xá-lỵ-phất, Ma-ha Mục-kiền-liên, Ma-ha Câu-si-la, Phú-lâu-na-di-đa-la-ni-tử, Tu-bồ-đề, Ưu-ba-ni-sa-đà làm thượng-thủ.

復有無量辟支無學,并其初心同來佛所。

Phục hữu vô lượng Bích-chi vô học, tinh kỳ sơ tâm đồng lai Phật sở.

Lại có vô số các vị Bích-chi vô-học và sơ-tâm đồng đến chổ Phật giảng đạo.

屬諸比丘休夏自恣,十方菩薩諮決心疑,欽奉慈嚴,將求密義。

Thuộc chư tỳ-kheo hưu hạ tự tứ, thập phương Bồ-tát tư quyết tâm nghi, khâm phụng từ nghiêm, tương cầu mật nghĩa.

Nhằm ngày các vị tỷ-khưu mãn hạ tự-tứ, các vị Bồ-tát, từ mười phương đến, xin Phật giải-quyết nghi-hoặc, kính vâng đức Từ-Nghiêm, thỉnh-cầu nghĩa thâm-mật.

即時如來敷座宴安,為諸會中宣示深奧。法筵清眾得未曾有,迦陵仙音遍十方界。恒沙菩薩來聚道場,文殊師利而為上首。

Tức thời Như-lai phu tòa yến an, vị chư hội trung tuyên thị thâm áo. Pháp diên thanh chúng đắc vị tằng hữu, ca-lăng tiên âm biến thập phương giới. Hằng sa Bồ-tát lai tụ đạo tràng, Văn-thù-sư-lợi nhi vi thượng thủ.

Đức Như-Lai giải pháp-tọa, ngồi khoan-thai, vì cả trong Hội tỏ-bày nghĩa sâu. Chúng Hội thanh-tịnh được pháp chưa từng có. Giọng nói của Phật hòa-nhã như tiếng chim ca-lăng-tầng-già, nghe khắp mười phương. Hằng sa Bồ-tát đều đến đạo-trường, có ngài Văn-thù-sư-lỵ làm thượng-thủ.

CHƯƠNG II - TỰA RIÊNG

DUYÊN-KHỞI CỦA KINH

時波斯匿王為其父王諱日營齋,請佛宮掖。自迎如來,廣設珍羞無上妙味,兼復親延諸大菩薩。城中復有長者、居士,同時飯僧,佇佛來應。佛勅文殊,分領菩薩及阿羅漢,應諸齋主。

Thời Ba-tư-nặc vương vị kỳ phụ vương húy nhật doanh trai, thỉnh Phật cung dịch. Tự nghênh Như-lai, quảng thiết trân tu vô thượng diệu vị, kiêm phục thân diên chư đại Bồ-tát. Thành trung phục hữu trưởng giả, cư sĩ, đồng thời phạn tăng, trữ Phật lai ứng. Phật sắc Văn-thù, phân lãnh Bồ-tát cập A-la-hán, ứng chư trai chủ.

Khi ấy vua Ba-tư-nặc, nhân ngày kỵ phụ-vương, mở tiệc chay mời Phật thụ-trai nơi cung-cấm; vua sắm đủ các món ăn quý-báu, rồi thân đến rước Phật và các vị Đại-Bồ-Tát. Trong thành lại có các trưởng-giả cư-sĩ đồng-thời cùng trai-tăng, chờ Phật đến chứng. Phật khiến ngài Văn-thù chia lãnh các vị Bồ-Tát và A-la-hán đi đến các nhà trai-chủ.

唯有阿難先受別請,遠遊未還,不遑僧次。既無上座及阿闍黎,途中獨歸,其日無供,即時阿難執持應器,於所遊城次第循乞。心中初求最後檀越以為齋主,無問淨穢、剎利尊姓及旃陀羅。方行等慈,不擇微賤,發意圓成一切眾生無量功德,阿難已知如來世尊訶須菩提及大迦葉,為阿羅漢心不均平。欽仰如來,開闡無遮,度諸疑謗。經彼城隍,徐步郭門,嚴整威儀,肅恭齋法。

Duy hữu A-nan tiên thọ biệt thỉnh, viễn du vị hoàn, bất hoàng tăng thứ. Ký vô thượng tòa cập a-xà-lê, đồ trung độc quy, kỳ nhật vô cúng, tức thời A-nan chấp trì ứng khí, ư sở du thành thứ đệ tuần khất. Tâm trung sơ cầu tối hậu đàn-việt dĩ vi trai chủ, vô vấn tịnh uế, sát-lợi tôn tính cập chiên-đà-la. Phương hành đẳng từ, bất trạch vi tiện, phát ý viên thành nhất thiết chúng sinh vô lượng công đức, A-nan dĩ tri Như-lai Thế-tôn ha Tu-bồ-đề cập đại Ca-diếp, vi A-la-hán tâm bất quân bình. Khâm ngưỡng Như-lai, khai xiển vô già, độ chư nghi báng. Kinh bỉ thành hoàng, từ bộ quách môn, nghiêm chỉnh uy nghi, túc cung trai pháp.

Duy có ông A-nan trước đả nhận lời mời riêng, đi xa chưa về, không kịp dự hàng tăng-chúng. Ông về một mình, không có Thượng-tọa và A-xà-lê cùng đi và ngày ấy cũng không được ai cúng-dường. Lúc bấy giờ ông cầm bình-bát vào trong một thành trên đường đi, theo thứ lớp khất-thực; tâm ông trước hết cầu được một người tối hậu đàn-việt làm trai-chủ, không kể sang hèn, phát-tâm làm sao cho tất-cả chúng sinh được viên-thành vô lượng công-đức. Ông A-nan đã biết đức Phật Thế-Tôn quở ông Tu-bồ-đề và ông Đại-ca-diếp làm A-la-hán mà tâm không công-bằng. Ônh kính vâng lời dạy vô giá của Phật độ-thoát mọi điều chê-bai nghi-hoặc. Ông đến bên thành, thong-thả vào cửa, uy-nghi nghiêm-chỉnh, kính giữ phép hóa-trai.

爾時,阿難因乞食次,經歷婬室,遭大幻術摩登伽女,以娑毘迦羅先梵天呪攝入婬席,婬躬撫摩,將毀戒體。如來知彼婬術所加,齋畢旋歸,王及大臣、長者、居士,俱來隨佛,願聞法要。

Nhĩ thời, A-nan nhân khất thực thứ, kinh lịch dâm thất, tao đại huyễn thuật Ma-đăng-già nữ, dĩ Sa-tỳ-ca-la tiên phạn thiên chú nhiếp nhập dâm tịch, dâm cung phủ ma, tương hủy giới thể. Như-lai tri bỉ dâm thuật sở gia, trai tất toàn quy, vương cập đại thần, trưởng giả, cư sĩ, câu lai tùy Phật, nguyện văn pháp yếu.

Trong khi khất-thực, ông A-nan đi qua nhà người dâm-nữ Ma-đăng-già, bị phép huyển-thuật. Nàng ấy dùng tà-chú Tiên-phạm-thiên đạo Sa-tỳ-ca-la bắt vào phòng riêng, dựa-kề vuốt-ve làm cho ông A-nan gần phá giới-thể. Đức Như-lai biết ông A-nan mắc phải dâm-thuật, nên dùng trai rồi, liền trở về tịnh-xá. Vua cùng đại-thần, trưởng-giả cư-sĩ đều đi theo Phật, mong nghe những pháp chủ-yếu của đạo Phật.

于時世尊頂放百寶無畏光明,光中出生千葉寶蓮,有佛化身結跏趺坐,宣說神呪。勅文殊師利將呪往護,惡呪銷滅,提㢡阿難及摩登伽歸來佛所。阿難見佛,頂禮悲泣,恨無始來一向多聞未全道力,殷勤啟請十方如來得成菩提、妙奢摩他、三摩、禪那最初方便。於時復有恒沙菩薩,及諸十方大阿羅漢、辟支佛等,俱願樂聞。退坐默然,承受聖旨。

Vu thời Thế-tôn đỉnh phóng bách bảo vô úy quang minh, quang trung xuất sinh thiên diệp bảo liên, hữu Phật hóa thân kết già phu tọa, tuyên thuyết thần chú. Sắc Văn-thù-sư-lợi tương chú vãng hộ, ác chú tiêu diệt, đề tưởng A-nan cập Ma-đăng-già quy lai Phật sở. A-nan kiến Phật, đỉnh lễ bi khấp, hận vô thủy lai nhất hướng đa văn vị toàn đạo lực, ân cần khải thỉnh thập phương Như-lai đắc thành Bồ-đề, diệu xa-ma-tha, tam-ma, thiền-na tối sơ phương tiện. Ư thời phục hữu hằng sa Bồ-tát, cập chư thập phương đại A-la-hán, Bích-chi Phật đẳng, câu nguyện nhạo văn. Thoái tọa mặc nhiên, thừa thọ thánh chỉ.

Khi ấy trên đỉnh đức Thế-tôn, phóng hào-quang bách-bảo vô-úy; trong hào-quang hiện ra tòa sen báu nghìn cánh, có hoá-thân của Phật kết-già ngồi trên, tuyên-đọc thần-chú , khiến ngài Văn-thù đem chú nầy đến giúp-đỡ, tiêu-diệt tà-chú, đưa ông A-nan cùng nàng Ma-đăng-già đều về chỗ Phật ở. Ông A-nan thấy Phật, đỉnh-lể khóc-lóc, giận mình từ vô-thủy đến nay, một bề học rộng nhớ nhiều, chưa toàn đạo-lực, tha-thiết xin Phật dạy cho những phép xa-ma-tha, tam-ma, thiền-na, là những phương-tiện tu-hành đầu tiên để thành đạo Bồ-đề của thập phương Như-lai. Lúc ấy lại có hằng-sa Bồ-tát, Đại-A-la-hán và Bích-chi-Phật, từ mười phương đến, thảy đều mong nghe Phật dạy, lui về chổ ngồi, yên-lặng lĩnh-thụ thánh-chỉ của Phật.

PHẦN THỨ HAI - PHẦN CHÍNH-TÔNG

CHƯƠNG I - CHỈ NGAY CHỖ VIÊN-NGỘ

MỤC I - GẠN-HỎI CÁI TÂM

ĐOẠN I - NÊU TRƯỚC NGUYÊN-DO CỦA THƯỜNG-TRỤ VÀ LƯU-CHUYỂN

佛告阿難:「汝我同氣,情均天倫,當初發心,於我法中見何勝相?頓捨世間深重恩愛!」阿難白佛:「我見如來三十二相勝妙殊絕,形體映徹猶如瑠璃。常自思惟:『此相非是欲愛所生。何以故?欲氣麁濁,腥臊交遘,膿血雜亂,不能發生勝淨妙明紫金光聚。』是以渴仰,從佛剃落。」

Phật cáo A-nan: “Nhữ ngã đồng khí, tình quân thiên luân, đương sơ phát tâm, ư ngã pháp trung kiến hà thắng tướng? Đốn xả thế gian thâm trọng ân ái!” A-nan bạch Phật: “Ngã kiến Như-lai tam thập nhị tướng thắng diệu thù tuyệt, hình thể ánh triệt do như lưu-ly. Thường tự tư duy: ‘Thử tướng phi thị dục ái sở sinh. Hà dĩ cố? Dục khí thô trọc, tinh tao giao cấu, nùng huyết tạp loạn, bất năng phát sinh thắng tịnh diệu minh tử kim quang tụ.’ Thị dĩ khát ngưỡng, tùng Phật thế lạc.”

Phật bảo ông A-nan : "Tôi với ông đồng phái, tình như anh em ruột; lúc ông mới phát-tâm thì ở trong Phật-pháp, thấy những tướng tốt gì mà bỏ được những ân-ái sâu-nặng thế-gian?" Ông A-nan bạch Phật: "Tôi thấy 32 tướng của Như-lai tốt-đẹp lạ thường, hình-thể sáng-suốt như ngọc lưu-ly, thường tự suy-nghĩ: Tướng ấy không thể do dục-ái sinh ra, vì sao? giống dâm-dục nhơ-nhớp, tanh-hôi kết-cấu, máu mủ xen-lộn, làm sao sinh được thân vàng thắm chói trong-sạch sáng-suốt như vậy, nên tôi ước-mong, cắt tóc theo Phật tu-học".

佛言:「善哉!阿難!汝等當知:一切眾生從無始來生死相續,皆由不知常住真心性淨明體,用諸妄想,此想不真故有輪轉。汝今欲研無上菩提真發明性,應當直心詶我所問。十方如來同一道故出離生死,皆以直心!心言直故,如是乃至終始地位,中間永無諸委曲相。「阿難!我今問汝,當汝發心緣於如來三十二相,將何所見?誰為愛樂?」

Phật ngôn: “Thiện tai! A-nan! Nhữ đẳng đương tri: Nhất thiết chúng sinh tùng vô thủy lai sinh tử tương tục, giai do bất tri thường trụ chân tâm tính tịnh minh thể, dụng chư vọng tưởng, thử tưởng bất chân cố hữu luân chuyển. Nhữ kim dục nghiên vô thượng Bồ-đề chân phát minh tính, ưng đương trực tâm thù ngã sở vấn. Thập phương Như-lai đồng nhất đạo cố xuất ly sinh tử, giai dĩ trực tâm! Tâm ngôn trực cố, như thị nãi chí chung thủy địa vị, trung gian vĩnh vô chư ủy khúc tướng. “A-nan! Ngã kim vấn nhữ, đương nhữ phát tâm duyên ư Như-lai tam thập nhị tướng, tương hà sở kiến? Thùy vi ái nhạo?”

Phật dạy: "Hay thay, A-nan, các ông nên biết hết thảy chúng-sinh từ vô-thủy đến nay sống chết nối luôn, đều do không biết thể-tính trong-sạch sáng-suốt của thường-trụ chân-tâm mà lại chỉ dùng các vọng-tưởng, vì vọng-tưởng đó không chân-thật nên mới có luân-hồi. Nay ông muốn học đạo vô-thượng Bồ-đề, phát-minh chân-tính thì nên lấy tâm ngay-thẳng mà đáp lại những câu hỏi của tôi. Thập phương Như-lai đều do một đường thoát-ly sinh-tử là dùng tâm ngay-thẳng. Tâm mà nói là ngay-thẳng thì cứ như vậy, từ địa-vị đầu đến địa-vị cuối cùng, chặng giữa, hẳn không có những tướng quanh-co. A-nan, nay tôi hỏi ông : "Đương khi ông do 32 tướng của Như-lai mà phát-tâm thì ông đem cái gì mà thấy và cái gì ưa-muốn?"

阿難白佛言:「世尊!如是愛樂,用我心目。由目觀見如來勝相,心生愛樂,故我發心,願捨生死。」

A-nan bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Như thị ái nhạo, dụng ngã tâm mục. Do mục quán kiến Như-lai thắng tướng, tâm sinh ái nhạo, cố ngã phát tâm, nguyện xả sinh tử.”

Ông A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, ưa-muốn như vậy là dùng cái tâm và con mắt của tôi. Do mắt thấy tướng tốt Như-lai, tâm sinh ưa-muốn nên tôi phát-tâm muốn tu-hành thoát khỏi sống chết".

佛告阿難:「如汝所說真所愛樂因于心目,若不識知心目所在,則不能得降伏塵勞。譬如國王為賊所侵,發兵討除,是兵要當知賊所在。使汝流轉,心目為咎;吾今問汝,唯心與目,今何所在?」

Phật cáo A-nan: “Như nhữ sở thuyết chân sở ái nhạo nhân vu tâm mục, nhược bất thức tri tâm mục sở tại, tắc bất năng đắc hàng phục trần lao. Thí như quốc vương vị tặc sở xâm, phát binh thảo trừ, thị binh yếu đương tri tặc sở tại. Sử nhữ lưu chuyển, tâm mục vi cữu; ngô kim vấn nhữ, duy tâm dữ mục, kim hà sở tại?”

Phật bảo ông A-nan: "Như lời ông nói : Thật do tâm và con mắt mà có ưa muốn. Nếu không biết tâm và con mắt ở đâu thì không thể hàng-phục được trần-lao; ví như ông vua một nước bị giặc xâm-lấn, phát-binh đánh-dẹp, thì binh ấy cần biết giặc ở chỗ nào mới đánh-dẹp được. Hiện ông còn mắc phải luân-hồi là lỗi tại tâm và con mắt của ông". Nay tôi hỏi ông: "Tâm và con mắt ấy hiện ở chỗ nào?"

ĐOẠN II - CHẤP TÂM Ở TRONG THÂN

阿難白佛言:「世尊!一切世間十種異生,同將識心居在身內;縱觀如來青蓮花眼,亦在佛面。我今觀此浮根四塵,秖在我面;如是識心,實居身內。」

A-nan bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Nhất thiết thế gian thập chủng dị sinh, đồng tương thức tâm cư tại thân nội; túng quán Như-lai thanh liên hoa nhãn, diệc tại Phật diện. Ngã kim quán thử phù căn tứ trần, chỉ tại ngã diện; như thị thức tâm, thực cư thân nội.”

Ông A-nan bạch Phật : "Thưa Thế-Tôn tất-cả mười loài chúng-sinh trong thế-gian đều cho cái tâm hay biết là ở trong thân. Dầu tôi xem con mắt như hoa sen xanh của Như-lai cũng ở trên mặt Phật; tôi thấy con mắt vật-chất của tôi ở trên mặt tôi. Như vậy thì tâm hay biết thật ở trong thân".

佛告阿難:「汝今現坐如來講堂,觀祇陀林今何所在?」「世尊!此大重閣清淨講堂在給孤園,今祇陀林實在堂外。」

Phật cáo A-nan: “Nhữ kim hiện tọa Như-lai giảng đường, quán Kỳ-đà lâm kim hà sở tại?” “Thế-tôn! Thử đại trùng các thanh tịnh giảng đường tại Cấp-cô viên, kim Kỳ-đà lâm thực tại đường ngoại.”

Phật bảo ông A-nan : "Hiện nay ông ngồi trong giảng-đường Như-lai. Ông hãy xem rừng Kỳ-đà hiện ở chỗ nào?" - Thưa Thế-tôn, giảng-đường cao lớn thanh-tịnh này ở trong vườn Cấp-cô-độc, còn rừng Kỳ-đà hiện thật ở ngoài giảng-đường.

「阿難!汝今堂中先何所見?」

“A-nan! Nhữ kim đường trung tiên hà sở kiến?”

- A-nan, nay ông ở trong giảng-đường thì ông thấy cái gì trước?

「世尊!我在堂中先見如來,次觀大眾,如是外望方矚林園。」

“Thế-tôn! Ngã tại đường trung tiên kiến Như-lai, thứ quán đại chúng, như thị ngoại vọng phương chúc lâm viên.”

- Thưa Thế-tôn, tôi ở trong giảng-đường, trước thấy Như-lai, sau xem đại-chúng, rồi trông ra ngoài thấy vườn rừng.

「阿難!汝矚林園因何有見?」

“A-nan! Nhữ chúc lâm viên nhân hà hữu kiến?”

- A-nan, do đâu ông thấy được vườn rừng?

「世尊!此大講堂戶牖開豁,故我在堂得遠瞻見。」

“Thế-tôn! Thử đại giảng đường hộ dũ khai khoát, cố ngã tại đường đắc viễn chiêm kiến.”

- Thưa Thế-tôn, do các cửa giảng-đường mở rộng nên tôi ở trong thấy suốt được đến ra ngoài xa.

爾時,世尊在大眾中,舒金色臂摩阿難頂,告示阿難及諸大眾:「有三摩提,名大佛頂首楞嚴王具足萬行、十方如來一門超出妙莊嚴路,汝今諦聽!」阿難頂禮,伏受慈旨。

Nhĩ thời, Thế-tôn tại đại chúng trung, thư kim sắc tý ma A-nan đỉnh, cáo thị A-nan cập chư đại chúng: “Hữu tam-ma-đề, danh đại Phật đỉnh Thủ-lăng-nghiêm vương cụ túc vạn hạnh, thập phương Như-lai nhất môn siêu xuất diệu trang nghiêm lộ, nhữ kim đế thính!” A-nan đỉnh lễ, phục thọ từ chỉ.

Khi ấy đức Thế-tôn, ở trong đại-chúng, đưa cánh tay kim-sắc xoa đầu ông A-nan, chỉ-bảo ông A-nan và đại-chúng rằng : "Có pháp Tam-ma-đề tên là Đại-phật-đỉnh-thủ-lăng-nghiêm-vương, gồm đủ muôn hạnh. Thập phương Như-lai đều do một pháp-môn ấy vượt lên đường diệu-trang-nghiêm. Ông nên chăm-chú lắng nghe". Ông A-nan đỉnh-lễ, kính vâng lời Phật dạy.

佛告阿難:「如汝所言『身在講堂,戶牖開豁,遠矚林園』,亦有眾生在此堂中,不見如來見堂外者?」

Phật cáo A-nan: “Như nhữ sở ngôn ‘thân tại giảng đường, hộ dũ khai khoát, viễn chúc lâm viên’, diệc hữu chúng sinh tại thử đường trung, bất kiến Như-lai kiến đường ngoại giả?”

Phật bảo ông A-nan: "Như ông vừa nói: Ở trong giảng-đường, do cửa mở rộng nên ông trông xa thấy được rừng vườn; phỏng có chúng-sinh nào ở trong giảng-đường, không thấy Như-lai mà lại thấy được ngoài giảng-đường chăng?"

阿難答言:「世尊!在堂不見如來,能見林泉,無有是處。」

A-nan đáp ngôn: “Thế-tôn! Tại đường bất kiến Như-lai, năng kiến lâm tuyền, vô hữu thị xứ.”

Ông A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, ở trong giảng-đường không thấy Như-lai mà thấy được rừng suối ở ngoài, thật không có lẽ nào như vậy".

「阿難!汝亦如是。汝之心靈一切明了,若汝現前所明了心實在身內,爾時先合了知內身;頗有眾生先見身中,後觀外物?縱不能見心、肝、脾、胃、爪生、髮長、筋轉、脈搖、誠合明了,如何不知?必不內知,云何知外?是故應知,汝言『覺了能知之心住在身內』,無有是處。」

“A-nan! Nhữ diệc như thị. Nhữ chi tâm linh nhất thiết minh liễu, nhược nhữ hiện tiền sở minh liễu tâm thực tại thân nội, nhĩ thời tiên hợp liễu tri nội thân; pha hữu chúng sinh tiên kiến thân trung, hậu quán ngoại vật? Túng bất năng kiến tâm, can, tỳ, vị, trảo sinh, phát trường, cân chuyển, mạch dao, thành hợp minh liễu, như hà bất tri? Tất bất nội tri, vân hà tri ngoại? Thị cố ưng tri, nhữ ngôn ‘giác liễu năng tri chi tâm trụ tại thân nội’, vô hữu thị xứ.”

- A-nan, chính ông cũng vậy. Cái tâm của ông rõ-biết hết thảy. Nếu hiện nay cái tâm rõ-biết ấy thật ở trong thân thì trước hết nó phải rõ-biết trong thân-thể. Vậy có chúng-sinh nào, trước thấy bên trong thân, rồi sau mới thấy những vật ở ngoài không? Dầu không thấy được tim gan tì vị, nhưng móng tay mọc, tóc dài ra, gân chuyển, mạch nhảy, lẽ phải rõ-biết, sao lại không biết? Đã không biết bên trong, sao lại biết được bên ngoài? Vậy nên biết rằng ông nói cái tâm hay-biết hiện ở trong thân, thật không có lẽ nào như vậy.

ĐOẠN III - CHẤP TÂM Ở NGOÀI THÂN

阿難稽首而白佛言:「我聞如來如是法音,悟知我心實居身外。所以者何?譬如燈光然於室中,是燈必能先照室內,從其室門後及庭際。一切眾生不見身中獨見身外,亦如燈光居在室外,不能照室。是義必明,將無所惑;同佛了義,得無妄耶?」

A-nan khể thủ nhi bạch Phật ngôn: “Ngã văn Như-lai như thị pháp âm, ngộ tri ngã tâm thực cư thân ngoại. Sở dĩ giả hà? Thí như đăng quang nhiên ư thất trung, thị đăng tất năng tiên chiếu thất nội, tùng kỳ thất môn hậu cập đình tế. Nhất thiết chúng sinh bất kiến thân trung độc kiến thân ngoại, diệc như đăng quang cư tại thất ngoại, bất năng chiếu thất. Thị nghĩa tất minh, tương vô sở hoặc; đồng Phật liễu nghĩa, đắc vô vọng da?”

Ông A-nan cúi đầu bạch Phật: "Tôi nghe lời Phật dạy như vậy, mới rõ tâm tôi thật ở ngoài thân. Vì sao? Ví như đèn thắp trong phòng, trước hết phải chiếu trong phòng, rồi sau mới do nơi cửa chiếu sáng ngoài sân. Hết thảy chúng-sinh không thấy bên trong thân mà riêng thấy bên ngoài, cũng như ngọn đèn, để ở ngoài phòng, không thể chiếu sáng trong phòng. Nghĩa ấy rõ-ràng, có lẽ không lầm, chưa biết có đúng với nghĩa-lý rốt-ráo của Phật hay không?"

佛告阿難:「是諸比丘,適來從我室羅筏城循乞摶食,歸祇陀林,我已宿齋。汝觀比丘一人食時,諸人飽不?」

Phật cáo A-nan: “Thị chư tỳ-kheo, thích lai tùng ngã Thất-la-phiệt thành tuần khất đoàn thực, quy Kỳ-đà lâm, ngã dĩ túc trai. Nhữ quán tỳ-kheo nhất nhân thực thời, chư nhân bão phủ?”

Phật bảo ông A-nan: "Vừa rồi, các tỷ-khưu theo tôi khất-thực trong thành Thất-la-phiệt, nay đã về rừng Kỳ-đà. Tôi đã thụ-trai rồi, ông hãy xem trong hàng tỷ-khưu, khi một người ăn thì các người khác có no không?"

阿難答言:「不也,世尊!何以故?是諸比丘雖阿羅漢,軀命不同,云何一人能令眾飽?」

A-nan đáp ngôn: “Phất dã, Thế-tôn! Hà dĩ cố? Thị chư tỳ-kheo tuy A-la-hán, khu mệnh bất đồng, vân hà nhất nhân năng lệnh chúng bão?”

Ông A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, không; vì rằng các tỷ-khưu tuy là A-la-hán, nhưng thân-thể khác nhau, lẽ nào một người ăn lại làm cho cả chúng đều no được".

佛告阿難:「若汝覺了知見之心,實在身外,身心相外,自不相干。則心所知,身不能覺,覺在身際,心不能知。我今示汝兜羅綿手,汝眼見時,心分別不?」

Phật cáo A-nan: “Nhược nhữ giác liễu tri kiến chi tâm, thực tại thân ngoại, thân tâm tương ngoại, tự bất tương can. Tắc tâm sở tri, thân bất năng giác, giác tại thân tế, tâm bất năng tri. Ngã kim thị nhữ đâu-la-miên thủ, nhữ nhãn kiến thời, tâm phân biệt phủ?”

Phật bảo ông A-nan: "Nếu cái tâm hay-biết của ông thật ở ngoài thân thì thân và tâm riêng-cách, tất-nhiên không dính-líu gì với nhau; vậy cái gì tâm biết thì thân không thể hay, cái gì thân hay thì tâm không thể biết. Nay tôi giơ tay đâu-la-miên cho ông xem, trong khi mắt ông thấy thì tâm ông có biết là tay của tôi không?"

阿難答言:「如是,世尊!」

A-nan đáp ngôn: “Như thị, Thế-tôn!”

Ông A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, đúng thế".

佛告阿難:「若相知者,云何在外?是故應知,汝言『覺了能知之心住在身外』,無有是處。」

Phật cáo A-nan: “Nhược tương tri giả, vân hà tại ngoại? Thị cố ưng tri, nhữ ngôn ‘giác liễu năng tri chi tâm trụ tại thân ngoại’, vô hữu thị xứ.”

Phật bảo ông A-nan: "Nếu thân với tâm cùng hay-biết một lúc với nhau thì làm sao tâm lại ở ngoài thân? Vậy nên biết rằng ông nói tâm hay-biết hiện ở ngoài thân, thật không có lẽ nào như vậy".

ĐOẠN IV - CHẤP TÂM NÚP SAU CON MẮT

阿難白佛言:「世尊!如佛所言『不見內故,不居身內;身心相知,不相離故,不在身外』,我今思惟,知在一處。」

A-nan bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Như Phật sở ngôn ‘bất kiến nội cố, bất cư thân nội; thân tâm tương tri, bất tương ly cố, bất tại thân ngoại’, ngã kim tư duy, tri tại nhất xứ.”

Ông A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, như lời Phật dạy: vì không thấy bên trong, tâm không ở trong thân, vì thân tâm cùng biết, không thể rời nhau, tâm không ở ngoài thân, nay tôi suy-nghĩ, biết tâm ở một chổ!"

佛言:「處今何在?」

Phật ngôn: “Xứ kim hà tại?”

Phật dạy: "Chỗ ấy ở đâu?"

阿難言:「此了知心既不知內而能見外,如我思忖,潛伏根裏。猶如有人取瑠璃椀,合其兩眼,雖有物合而不留礙,彼根隨見隨即分別。然我覺了能知之心不見內者,為在根故;分明矚外無障礙者,潛根內故。」

A-nan ngôn: “Thử liễu tri tâm ký bất tri nội nhi năng kiến ngoại, như ngã tư thốn, tiềm phục căn lý. Do như hữu nhân thủ lưu-ly oản, hợp kỳ lưỡng nhãn, tuy hữu vật hợp nhi bất lưu ngại, bỉ căn tùy kiến tùy tức phân biệt. Nhiên ngã giác liễu năng tri chi tâm bất kiến nội giả, vi tại căn cố; phân minh chúc ngoại vô chướng ngại giả, tiềm căn nội cố.”

Ông A-nan bạch Phật: "Cái tâm hay-biết đã không biết bên trong mà lại thấy bên ngoài, theo ý tôi nghĩ thì nó núp sau con mắt. Ví như có người lấy chén lưu-ly úp vào hai con mắt, con mắt tuy có vật úp vào nhưng không làm ngăn-ngại, con mắt kia liền thấy thì liền phân-biệt được ngay. Song tâm hay-biết của tôi không thấy bên trong là vì tâm ở nơi con mắt; nhưng lại thấy bên ngoài rõ-ràng, không bị ngăn-ngại, là vì tâm núp sau con mắt".

佛告阿難:「如汝所言『潛根內者猶如瑠璃』,彼人當以瑠璃籠眼,當見山河,見瑠璃不?」

Phật cáo A-nan: “Như nhữ sở ngôn ‘tiềm căn nội giả do như lưu-ly’, bỉ nhân đương dĩ lưu-ly lung nhãn, đương kiến sơn hà, kiến lưu-ly phủ?”

Phật bảo ông A-nan: "Như ông vừa nói: Tâm núp sau con mắt như con mắt núp sau chén lưu-ly; vậy người kia đương khi lấy chén lưu-ly úp vào hai mắt, trông-thấy núi sông thì có trông-thấy chén lưu-ly không?"

「如是,世尊!是人當以瑠璃籠眼,實見瑠璃。」

“Như thị, Thế-tôn! Thị nhân đương dĩ lưu-ly lung nhãn, thực kiến lưu-ly.”

-Thưa Thế-tôn, đúng thế, người ấy đương khi lấy chén lưu-ly úp vào hai mắt, thật có thấy chén lưu-ly.

佛告阿難:「汝心若同瑠璃合者,當見山河,何不見眼?若見眼者,眼即同境,不得成隨;若不能見,云何說言『此了知心潛在根內如瑠璃合』?是故應知,汝言『覺了能知之心潛伏根裏如瑠璃合』,無有是處。」

Phật cáo A-nan: “Nhữ tâm nhược đồng lưu-ly hợp giả, đương kiến sơn hà, hà bất kiến nhãn? Nhược kiến nhãn giả, nhãn tức đồng cảnh, bất đắc thành tùy; nhược bất năng kiến, vân hà thuyết ngôn ‘thử liễu tri tâm tiềm tại căn nội như lưu-ly hợp’? Thị cố ưng tri, nhữ ngôn ‘giác liễu năng tri chi tâm tiềm phục căn lý như lưu-ly hợp’, vô hữu thị xứ.”

Phật bảo ông A-nan: "Nếu tâm ông núp sau con mắt như con mắt núp sau chén lưu-ly thì trong khi trông-thấy núi sông sao không trông-thấy con mắt? Nếu trông-thấy con mắt thì con mắt hình như ngoại-cảnh, không thể liền thấy mà liền biết được. Nếu không thấy được con mắt thì sao lại nói rằng tâm hay-biết núp sau con mắt như con mắt núp sau chén lưu-ly? Vậy nên biết rằng ông nói cái tâm hay-biết núp sau con mắt như con mắt núp sau chén lưu-ly, thật không có lẽ nào như vậy".

ĐOẠN V - CHẤP NHẮM MẮT THẤY TỐI LÀ THẤY BÊN TRONG THÂN

阿難白佛言:「世尊!我今又作如是思惟:『是眾生身,府藏在中,竅穴居外;有藏則暗,有竅則明。』今我對佛,開眼見明,名為見外;閉眼見暗,名為見內。是義云何?」

A-nan bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Ngã kim hựu tác như thị tư duy: ‘Thị chúng sinh thân, phủ tạng tại trung, khiếu huyệt cư ngoại; hữu tạng tắc ám, hữu khiếu tắc minh.’ Kim ngã đối Phật, khai nhãn kiến minh, danh vi kiến ngoại; bế nhãn kiến ám, danh vi kiến nội. Thị nghĩa vân hà?”

Ông A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, nay tôi lại nghĩ như vầy: Trong thân-thể chúng-sinh này, phủ-tạng ở trong, khiếu-huyệt ở ngoài, có tạng thì tối, có khiếu thì sáng. Nay tôi trả-lời Phật rằng: Mở mắt thấy sáng gọi là thấy bên ngoài, nhắm mắt thấy tối gọi là thấy bên trong. Nghĩa ấy thế nào?"

佛告阿難:「汝當閉眼見暗之時,此暗境界為與眼對,為不對眼?若與眼對,暗在眼前,云何成內?若成內者,居暗室中無日月燈,此室暗中皆汝焦府?若不對者,云何成見?若離外見,內對所成,合眼見暗,名為身中;開眼見明,何不見面?若不見面,內對不成。見面若成,此了知心及與眼根,乃在虛空,何成在內?若在虛空,自非汝體,即應如來今見汝面,亦是汝身。汝眼已知,身合非覺。必汝執言身,眼兩覺,應有二知,即汝一身應成兩佛!是故應知,汝言『見暗名見內』者,無有是處。」

Phật cáo A-nan: “Nhữ đương bế nhãn kiến ám chi thời, thử ám cảnh giới vi dữ nhãn đối, vi bất đối nhãn? Nhược dữ nhãn đối, ám tại nhãn tiền, vân hà thành nội? Nhược thành nội giả, cư ám thất trung vô nhật nguyệt đăng, thử thất ám trung giai nhữ tiêu phủ? Nhược bất đối giả, vân hà thành kiến? Nhược ly ngoại kiến, nội đối sở thành, hợp nhãn kiến ám, danh vi thân trung; khai nhãn kiến minh, hà bất kiến diện? Nhược bất kiến diện, nội đối bất thành. Kiến diện nhược thành, thử liễu tri tâm cập dữ nhãn căn, nãi tại hư không, hà thành tại nội? Nhược tại hư không, tự phi nhữ thể, tức ưng Như-lai kim kiến nhữ diện, diệc thị nhữ thân. Nhữ nhãn dĩ tri, thân hợp phi giác. Tất nhữ chấp ngôn thân, nhãn lưỡng giác, ưng hữu nhị tri, tức nhữ nhất thân ưng thành lưỡng Phật! Thị cố ưng tri, nhữ ngôn ‘kiến ám danh kiến nội’ giả, vô hữu thị xứ.”

Phật bảo ông A-nan: "Đương khi ông nhắm mắt thấy tối, cái cảnh tối ấy là đối với mắt hay không đối với mắt. Nếu đối với mắt thì cái tối trước mắt, sao lại ở trong thân? Nếu thành ở trong thân thì khi ở trong phòng tối, không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng và đèn, cái gì ở trong phòng tối đó đều là tam-tiêu lục-phủ của ông hay sao? Còn như cái tối không đối với mắt, thì làm sao thành ra có thấy? Dầu tách-rời lối thấy bên ngoài mà cho rằng con mắt đối vào trong nên thấy tối, thì nhắm mắt thấy tối, gọi là thấy bên trong thân; vậy mở mắt thấy sáng sao lại không thấy cái mặt. Nếu không thấy cái mặt thì cái nghĩa con mắt đối vào trong, không thành-lập được. Còn như thấy được cái mặt thì cái tâm hay-biết ấy và con mắt đều ở ngoài hư-không, sao lại thành ở trong thân được? Nếu tâm và con mắt ở ngoài hư-không thì tất-nhiên không phải là thể-chất của ông, vì không lẽ hiện nay Như-lai thấy mặt ông cũng là thân của ông hay sao? Và như thế thì con mắt đã biết, thân ông lẽ phải không biết. Nếu ông chấp rằng thân và con mắt đều có biết thì ông phải có hai tính-biết, rồi chính một thân ông sẽ thành hai đức Phật hay sao? Vậy nên biết rằng ông nói thấy tối là thấy bên trong thân, thật không có lẽ nào như vậy".

ĐOẠN VI - CHẤP TÂM HỢP VỚI CHỖ NÀO THÌ LIỀN CÓ Ở CHỔ ẤY

阿難言:「我常聞佛開示四眾:『由心生故種種法生,由法生故種種心生。』我今思惟:『即思惟體實我心性。隨所合處,心則隨有;亦非內、外、中間三處。』」

A-nan ngôn: “Ngã thường văn Phật khai thị tứ chúng: ‘Do tâm sinh cố chủng chủng pháp sinh, do pháp sinh cố chủng chủng tâm sinh.’ Ngã kim tư duy: ‘Tức tư duy thể thực ngã tâm tính. Tùy sở hợp xứ, tâm tắc tùy hữu; diệc phi nội, ngoại, trung gian tam xứ.’”

Ông A-nan bạch Phật: " Tôi thường nghe Phật chỉ-dạy tứ-chúng : Do tâm sinh nên các thứ pháp sinh, do pháp sinh nên các thứ tâm sinh. Nay tôi suy-nghĩ thì tức cái thể suy-nghĩ đó thật là tâm-tính của tôi, hễ hợp với chỗ nào thì tâm liền có ở chỗ đó, chứ không phải ở trong, ở ngoài hay ở chặng giữa".

佛告阿難:「汝今說言『由法生故種種心生,隨所合處心隨有』者,是心無體則無所合;若無有體而能合者,則十九界因七塵合,是義不然。若有體者,如汝以手自挃其體,汝所知心為復內出、為從外入?若復內出,還見身中;若從外來,先合見面?」

Phật cáo A-nan: “Nhữ kim thuyết ngôn ‘do pháp sinh cố chủng chủng tâm sinh, tùy sở hợp xứ tâm tùy hữu’ giả, thị tâm vô thể tắc vô sở hợp; nhược vô hữu thể nhi năng hợp giả, tắc thập cửu giới nhân thất trần hợp, thị nghĩa bất nhiên. Nhược hữu thể giả, như nhữ dĩ thủ tự trất kỳ thể, nhữ sở tri tâm vi phục nội xuất, vi tùng ngoại nhập? Nhược phục nội xuất, hoàn kiến thân trung; nhược tùng ngoại lai, tiên hợp kiến diện?”

Phật bảo ông A-nan: "Nay ông nói rằng : Do pháp sinh nên các thứ tâm sinh, hễ hợp với chỗ nào thì tâm liền có ở chỗ đó. Cái tâm ấy nếu không có tự-thể thì không thể hợp được; chứ còn nếu không có tự-thể mà vẩn hợp được thì giới thứ 19 cùng trần thứ 7 hợp lại được hay sao? Nghĩa ấy quyết không đúng. Còn nếu có tự-thể thì trong khi ông lấy tay tự gãi thân ông, cái tâm biết gãi của ông ở trong thân ra hay từ bên ngoài vào? Như ở trong thân ra thì lại phải thấy bên trong, còn như từ ngoài vào thì trước hết phải thấy cái mặt".

阿難言:「見是其眼,心知非眼,為見非義。」

A-nan ngôn: “Kiến thị kỳ nhãn, tâm tri phi nhãn, vi kiến phi nghĩa.”

Ông A-nan bạch Phật: " Thấy là con mắt, còn tâm thì biết chứ không phải thấy như con mắt; nói tâm thấy là không đúng nghĩa".

佛言:「若眼能見,汝在室中門能見不?則諸已死尚有眼存,應皆見物。若見物者,云何名死?阿難!又汝覺了能知之心,若必有體,為復一體?為有多體?今在汝身,為復遍體?為不遍體?若一體者,則汝以手挃一𨈛時,四𨈛應覺;若咸覺者,挃應無在。若挃有所,則汝一體自不能成。若多體者,則成多人。何體為汝?若遍體者,同前所挃!若不遍者,當汝觸頭亦觸其足,頭有所覺,足應無知。今汝不然。是故應知,隨所合處心則隨有,無有是處。」

Phật ngôn: “Nhược nhãn năng kiến, nhữ tại thất trung môn năng kiến phủ? Tắc chư dĩ tử thượng hữu nhãn tồn, ưng giai kiến vật. Nhược kiến vật giả, vân hà danh tử? A-nan! Hựu nhữ giác liễu năng tri chi tâm, nhược tất hữu thể, vi phục nhất thể? Vi hữu đa thể? Kim tại nhữ thân, vi phục biến thể? Vi bất biến thể? Nhược nhất thể giả, tắc nhữ dĩ thủ trất nhất chi thời, tứ chi ưng giác; nhược hàm giác giả, trất ưng vô tại. Nhược trất hữu sở, tắc nhữ nhất thể tự bất năng thành. Nhược đa thể giả, tắc thành đa nhân. Hà thể vi nhữ? Nhược biến thể giả, đồng tiền sở trất! Nhược bất biến giả, đương nhữ xúc đầu diệc xúc kỳ túc, đầu hữu sở giác, túc ưng vô tri. Kim nhữ bất nhiên. Thị cố ưng tri, tùy sở hợp xứ tâm tắc tùy hữu, vô hữu thị xứ.”

Phật dạy: " Nếu con mắt thấy được thì khi ông ở trong phòng, cái cửa có thấy được không? Lại những người chết rồi, vẫn còn con mắt, lẽ ra phải thấy được vật; mà nếu thấy được vật thì sao gọi là chết. A-nan, lại nếu cái tâm hay-biết của ông phải có tự-thể thì có một thể hay có nhiều thể? Nay tâm ở nơi thân ông, thể ấy cùng khắp cả mình hay không cùng khắp? Nếu tâm có một thể thì ông lấy tay gãi một chi, lẽ ra cả tứ chi đều biết; mà nếu đều biết thì lại không biết gãi ở chỗ nào. Nếu biết chỗ gãi thì cái thuyết một thể của ông tự-nhiên không thể thành-lập được. Nếu như có nhiều thể thì thành ra nhiều người, còn biết cái thể nào là thể của ông. Nếu cái thể ấy cùng khắp cả mình thì lại như trước kia, không biết được chỗ gãi. Nếu còn như không cùng khắp thì khi ông chạm trên đầu, đồng-thời cũng chạm dưới chân, hễ đầu có biết, lẽ ra chân phải không biết, nhưng hiện nay ông lại không phải như thế. Vậy nên biết rằng hễ hợp với chỗ nào, tâm liền có ở chỗ đó, thật không có lẽ nào như vậy".

ĐOẠN VII - CHẤP TÂM Ở CHẶNG GIỮA

阿難白佛言:「世尊!我亦聞佛與文殊等諸法王子談實相時,世尊亦言:『心不在內,亦不在外。』如我思惟:『內無所見,外不相知。內無知故,在內不成;身心相知,在外非義。今相知故,復內無見,當在中間。』」

A-nan bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Ngã diệc văn Phật dữ Văn-thù đẳng chư pháp vương tử đàm thực tướng thời, Thế-tôn diệc ngôn: ‘Tâm bất tại nội, diệc bất tại ngoại.’ Như ngã tư duy: ‘Nội vô sở kiến, ngoại bất tương tri. Nội vô tri cố, tại nội bất thành; thân tâm tương tri, tại ngoại phi nghĩa. Kim tương tri cố, phục nội vô kiến, đương tại trung gian.’”

Ông A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, trong khi Phật nói thật-tướng với các vị pháp-vương-tử như ngài Văn-thù, tôi có nghe đức Thế-tôn cũng dạy rằng: Tâm không ở trong, cũng không ở ngoài. Theo ý tôi nghĩ: Tâm ở trong thân, sao lại không thấy bên trong; tâm ở ngoài thân thì thân và tâm không cùng biết. Vì tâm không biết bên trong nên không thể nói tâm ở trong thân, vì thân và tâm cùng biết nên nói tâm ở ngoài cũng không đúng lý. Nay thân và tâm cùng biết, lại tâm không thấy được bên trong thân thì tâm phải ở chặng giữa".

佛言:「汝言中間,中必不迷,非無所在。今汝推中,中何為在?為復在處?為當在身?若在身者,在邊非中,在中同內。若在處者,為有所表?為無所表?無表同無,表則無定。何以故?如人以表表為中時,東看則西,南觀成北;表體既混,心應雜亂?」

Phật ngôn: “Nhữ ngôn trung gian, trung tất bất mê, phi vô sở tại. Kim nhữ suy trung, trung hà vi tại? Vi phục tại xứ? Vi đương tại thân? Nhược tại thân giả, tại biên phi trung, tại trung đồng nội. Nhược tại xứ giả, vi hữu sở biểu? Vi vô sở biểu? Vô biểu đồng vô, biểu tắc vô định. Hà dĩ cố? Như nhân dĩ biểu biểu vi trung thời, đông khán tắc tây, nam quán thành bắc; biểu thể ký hỗn, tâm ưng tạp loạn?”

Phật bảo ông A-nan: "Ông nói "ở chặng giữa" thì cái giữa ấy chắc không lẫn-lộn và không phải không có chỗ. Nay ông nhận-định cái giữa ấy ở chỗ nào, ở nơi cảnh hay ở nơi thân? Nếu ở nơi thân mà ở một bên thì không phải là giữa; còn nếu ở giữa thân thì cũng như ở trong thân. Nếu cái giữa ở nơi cảnh thì có thể nêu ra được hay không thể nêu ra được? Không nêu ra được thì cũng như không có cái giữa, còn nêu ra được thì lại không nhất-định ở giữa. Vì sao? Ví như có người lấy một cây nêu, nêu một chỗ làm cái giữa, thì phương Đông trông qua, cái nêu lại ở phương Tây; phương Nam nhìn ra, cái nêu thành ở phương Bắc. Cái giữa nêu ra đã lẫn-lộn thì tâm phải rối-bời, không rõ ở đâu".

阿難言:「我所說中,非此二種。如世尊言『眼、色為緣生於眼識』,眼有分別,色塵無知,識生其中則為心在。」

A-nan ngôn: “Ngã sở thuyết trung, phi thử nhị chủng. Như Thế-tôn ngôn ‘nhãn, sắc vi duyên sinh ư nhãn thức’, nhãn hữu phân biệt, sắc trần vô tri, thức sinh kỳ trung tắc vi tâm tại.”

Ông A-nan bạch Phật: "Cái giữa của tôi nói, không phải hai thứ ấy. Như đức Thế-tôn thường dạy: Nhãn-căn và sắc-trần làm duyên, phát-sinh nhãn-thức. Nhãn-căn có phân-biệt, sắc-trần không hay-biết, nhãn-thức sinh ra ở giữa thì tâm ở chỗ đó".

佛言:「汝心若在根、塵之中,此之心體為復兼二?為不兼二?若兼二者,物體雜亂。物非體知,成敵兩立,云何為中?兼二不成。非知不知,即無體性,中何為相?是故應知,當在中間,無有是處。」

Phật ngôn: “Nhữ tâm nhược tại căn, trần chi trung, thử chi tâm thể vi phục kiêm nhị? Vi bất kiêm nhị? Nhược kiêm nhị giả, vật thể tạp loạn. Vật phi thể tri, thành địch lưỡng lập, vân hà vi trung? Kiêm nhị bất thành. Phi tri bất tri, tức vô thể tính, trung hà vi tướng? Thị cố ưng tri, đương tại trung gian, vô hữu thị xứ.”

Phật dạy: "Nếu tâm ông ở giữa căn và trần thì cái thể tâm ấy gồm cả hai bên hay không gồm cả hai bên? Nếu gồm cả hai bên thì ngoại-vật và tâm-thể xen-lộn, còn biết tâm là gì? Ngoại-vật không phải có biết như tâm-thể; bên có biết, bên không biết, trái hẳn lẫn nhau thì lấy cái gì làm cái ở giữa? Gồm cả hai bên cũng không được và nếu không phải có biết và cũng không phải không biết thì tức là không có thể-tính, lấy gì làm cái tướng ở giữa. Vậy nên biết rằng ông nói cái tâm phải ở chặng giữa, thật không có lẽ nào như vậy".

ĐOẠN VIII - CHẤP TÂM KHÔNG DÍNH-DÁNG VÀO ĐÂU TẤT-CẢ

阿難白佛言:「世尊!我昔見佛與大目連、須菩提、富樓那、舍利弗四大弟子共轉法輪,常言『覺知分別心性,既不在內,亦不在外,不在中間,俱無所在;一切無著,名之為心』,則我無著,名為心不?」

A-nan bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Ngã tích kiến Phật dữ Đại Mục-liên, Tu-bồ-đề, Phú-lâu-na, Xá-lợi-phất tứ đại đệ tử cộng chuyển pháp luân, thường ngôn ‘giác tri phân biệt tâm tính, ký bất tại nội, diệc bất tại ngoại, bất tại trung gian, câu vô sở tại; nhất thiết vô trước, danh chi vi tâm’, tắc ngã vô trước, danh vi tâm phủ?”

Ông A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, trước đây tôi thấy Phật cùng chuyển pháp-luân với 4 vị đại-đệ-tử là Đại-mục-liên, Tu-bồ-đề, Phú-lâu-na, Xá-lỵ-phất, Phật thường dạy : Cái tính của tâm hay-biết cũng chẳng ở trong, cũng chẳng ở ngoài, cũng chẳng ở chặng giữa, chẳng ở chỗ nào cả, không dính-dáng vào đâu tất-cả thì gọi là tâm. Vậy tôi lấy cái không dính-dáng của tôi mà gọi là tâm, có được chăng?".

佛告阿難:「汝言『覺知分別心性俱無在』者,世間虛空、水、陸、飛行諸所物象,名為一切。汝不著者,為在為無?無則同於龜毛、兔角,云何不著?有不著者,不可名無。無相則無,非無則相;相有則在,云何無著?是故應知『一切無著名覺知心』,無有是處。」

Phật cáo A-nan: “Nhữ ngôn ‘giác tri phân biệt tâm tính câu vô tại’ giả, thế gian hư không, thủy, lục, phi hành chư sở vật tượng, danh vi nhất thiết. Nhữ bất trước giả, vi tại vi vô? Vô tắc đồng ư quy mao, thỏ giác, vân hà bất trước? Hữu bất trước giả, bất khả danh vô. Vô tướng tắc vô, phi vô tắc tướng; tướng hữu tắc tại, vân hà vô trước? Thị cố ưng tri ‘nhất thiết vô trước danh giác tri tâm’, vô hữu thị xứ.”

Phật bảo ông A-nan: "Ông nói tính của tâm hay-biết, không ở đâu cả. Vậy các vật-tượng thế-gian như hư-không và các loài thủy, lục, không, hành, gọi là tất-cả sự-vật mà ông không dính-dáng vào, là có hay là không có? Không, thì đồng như lông rùa, sừng thỏ, còn gì mà không dính-dáng? Đã có cái không dính-dáng thì không thể gọi là không. Không có tướng thì là không, không phải không thì có tướng; có tướng thì có chỗ ở, làm sao lại không dính-dáng được. Vậy nên biết rằng ông nói cái không dính-dáng vào đâu tất-cả gọi là tâm hay-biết, thật không có lẽ nào như vậy".

MỤC II - CHỈ RÕ TÍNH-THẤY

ĐOẠN I - CẦU ĐI ĐẾN CHO CHÂN-THẬT

爾時,阿難在大眾中,即從座起,偏袒右肩,右膝著地,合掌恭敬而白佛言:「我是如來最小之弟,蒙佛慈愛,雖今出家,猶恃憍憐,所以多聞未得無漏;不能折伏娑毘羅呪,為彼所轉,溺於婬舍,當由不知真際所詣。唯願世尊大慈哀愍,開示我等奢摩他路,令諸闡提隳彌戾車!」

Nhĩ thời, A-nan tại đại chúng trung, tức tùng tòa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa, hợp chưởng cung kính nhi bạch Phật ngôn: “Ngã thị Như-lai tối tiểu chi đệ, mông Phật từ ái, tuy kim xuất gia, do thị kiêu liên, sở dĩ đa văn vị đắc vô lậu; bất năng chiết phục Sa-tỳ-la chú, vị bỉ sở chuyển, nịch ư dâm xá, đương do bất tri chân tế sở nghệ. Duy nguyện Thế-tôn đại từ ai mẫn, khai thị ngã đẳng xa-ma-tha lộ, lệnh chư xiển-đề huy di-lệ-xa!”

Khi bấy giờ ông A-nan, ở trong đại-chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo bên phải, đầu gối bên phải chấm đất, chấp tay cung-kính mà bạch Phật rằng: "Tôi là em rất nhỏ của Như-lai, nhờ Phật thương-yêu, nay tuy được xuất-gia, còn ỷ-lại nơi lòng thương của Phật. Vì vậy nên tôi học rộng nghe nhiều mà chưa chứng-quả vô-lậu, không uốn-dẹp được chú Sa-tỳ-cà-la, bị nó bắt phải vào nhà dâm-nữ; nguyên-do là vì không biết đường tu-tập đi đến chỗ chân-thật. Cầu xin Thế-tôn đại từ thương-xót, chỉ-dạy cho chúng tôi đường tu Xa-ma-tha, cũng khiến cho những ngưòi không tin trừ-bỏ những tư-tưởng xấu".

作是語已,五體投地。及諸大眾,傾渴翹佇,欽聞示誨。

Tác thị ngữ dĩ, ngũ thể đầu địa. Cập chư đại chúng, khuynh khát kiều trữ, khâm văn thị hối.

Ông A-nan nói như vậy rồi, năm vóc gieo xuống đất, cùng với đại-chúng, hết lòng mong được nghe lời Phật dạy.

ĐOẠN II - PHÓNG HÀO-QUANG NÊU RA TÍNH-THẤY VIÊN-MÃN SÁNG-SUỐT

爾時,世尊從其面門放種種光,其光晃耀如百千日,普佛世界六種震動。如是十方微塵國土一時開現,佛之威神,令諸世界合成一界。其世界中,所有一切諸大菩薩,皆住本國合掌承聽。

Nhĩ thời, Thế-tôn tùng kỳ diện môn phóng chủng chủng quang, kỳ quang hoảng diệu như bách thiên nhật, phổ Phật thế giới lục chủng chấn động. Như thị thập phương vi trần quốc độ nhất thời khai hiện, Phật chi uy thần, lệnh chư thế giới hợp thành nhất giới. Kỳ thế giới trung, sở hữu nhất thiết chư đại Bồ-tát, giai trụ bản quốc hợp chưởng thừa thính.

Khi bấy giờ đức Thế-tôn, từ trước mặt, phóng ra các thứ hào-quang, hào-quang ấy chói sáng như trăm nghìn mặt trời, khắp các thế-giới chư Phật, sáu thứ rung-động, như thật các cõi nước mười phương, nhiều như vi-trần, hiện ra trong một lúc. Oai-thần của Phật khiến các thế-giới hợp lại thành một thế-giới. Trong thế-giới nầy, tất-cả các vị Bồ-tát hiện có, đều an-trụ nơi nước mình, chấp tay vâng nghe lời Phật dạy.

ĐOẠN III - CHỈ HAI THỨ CỖI-GỐC ĐỂ PHÂN-BIỆT MÊ VÀ NGỘ

佛告阿難:「一切眾生,從無始來種種顛倒,業種自然如惡叉聚。諸修行人,不能得成無上菩提乃至別成聲聞、緣覺,及成外道、諸天魔王及魔眷屬,皆由不知二種根本錯亂修習;猶如煮沙欲成嘉饌,縱經塵劫終不能得。云何二種?阿難!一者、無始生死根本,則汝今者與諸眾生用攀緣心為自性者。二者、無始菩提、涅槃元清淨體,則汝今者識精元明,能生諸緣緣所遺者。由諸眾生遺此本明,雖終日行而不自覺,枉入諸趣。

Phật cáo A-nan: “Nhất thiết chúng sinh, tùng vô thủy lai chủng chủng điên đảo, nghiệp chủng tự nhiên như ác-xoa tụ. Chư tu hành nhân, bất năng đắc thành vô thượng Bồ-đề nãi chí biệt thành thanh văn, duyên giác, cập thành ngoại đạo, chư thiên ma vương cập ma quyến thuộc, giai do bất tri nhị chủng căn bản thác loạn tu tập; do như chử sa dục thành gia soạn, túng kinh trần kiếp chung bất năng đắc. Vân hà nhị chủng? A-nan! Nhất giả, vô thủy sinh tử căn bản, tắc nhữ kim giả dữ chư chúng sinh dụng phan duyên tâm vi tự tính giả. Nhị giả, vô thủy Bồ-đề, Niết-bàn nguyên thanh tịnh thể, tắc nhữ kim giả thức tinh nguyên minh, năng sinh chư duyên duyên sở di giả. Do chư chúng sinh di thử bản minh, tuy chung nhật hành nhi bất tự giác, uổng nhập chư thú.

Phật bảo ông A-nan: “Tất-cả chúng-sinh từ vô-thủy đến nay điên-đảo nhiều cách, giống nghiệp tự-nhiên nhóm lại như chum quả ác-xoa. Những người tu-hành không thành được đạo vô-thượng Bồ-đề, đến nỗi lại thành Thanh-văn, Duyên-giác hoặc thành ngoại-đạo, chư Thiên, Ma-vương hay bà con Ma, đều do không biết hai chữ cỗi-gốc, tu-tập sai-lầm, cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dầu trải qua nhiều kiếp như vi-trần, rốt-cuộc vẫn không thể thành được. Thế nào là hai thứ cỗi-gốc? A-nan, một là cái cỗi-gốc sống chết vô-thủy, tức như ông ngày nay cùng các chúng-sinh dùng cái tâm phan-duyên mà làm tự-tính. Hai là cái thể bản-lai thanh-tịnh Bồ-đề Niết-bàn vô-thủy thì như hiện nay cái tính bản-minh thức-tính của ông, sinh ra các duyên ma lại bị bỏ rơi. Do các chúng-sinh bỏ rơi cái bản-minh ấy nên tuy cả ngày sống trong tính bản-minh mà không tự-giác, oan-uổng vào trong lục đạo.

ĐOẠN IV - NƯƠNG CÁI THẤY, GẠN-HỎI CÁI TÂM

「阿難!汝今欲知奢摩他路,願出生死,今復問汝!」

“A-nan! Nhữ kim dục tri xa-ma-tha lộ, nguyện xuất sinh tử, kim phục vấn nhữ!”

A-nan, nay ông muốn biết đường tu Xa-ma-tha ra khỏi sống chết, tôi lại hỏi ông :

即時如來舉金色臂,屈五輪指,語阿難言:「汝今見不?」

Tức thời Như-lai cử kim sắc tý, khuất ngũ luân chỉ, ngữ A-nan ngôn: “Nhữ kim kiến phủ?”

Liền đó đức Như-lai giơ cánh tay kim-sắc, co năm ngón tay, bảo ông A-nan : « Ông có thấy không ? »

阿難言:「見。」

A-nan ngôn: “Kiến.”

Ông A-nan bạch Phật : « Thấy».

佛言:「汝何所見?」

Phật ngôn: “Nhữ hà sở kiến?”

Phật bảo: “Ông thấy cái gì?”

阿難言:「我見如來舉臂屈指為光明拳,曜我心目。」佛言:「汝將誰見?」

A-nan ngôn: “Ngã kiến Như-lai cử tý khuất chỉ vi quang minh quyền, diệu ngã tâm mục.” Phật ngôn: “Nhữ tương thùy kiến?”

Ông A-nan bạch: “Tôi thấy Như-lai giơ cánh tay, co ngón tay thành nắm tay sáng-ngời, chói tâm và con mắt của tôi”. Phật bảo: “Ông đem cái gì mà thấy?”.

阿難言:「我與大眾同將眼見。」

A-nan ngôn: “Ngã dữ đại chúng đồng tương nhãn kiến.”

Ông A-nan bạch: “Tôi cùng đại-chúng đều đem con mắt mà thấy”.

佛告阿難:「汝今答我:如來屈指為光明拳,耀汝心目,汝目可見,以何為心當我拳耀?」

Phật cáo A-nan: “Nhữ kim đáp ngã: Như-lai khuất chỉ vi quang minh quyền, diệu nhữ tâm mục, nhữ mục khả kiến, dĩ hà vi tâm đương ngã quyền diệu?”

Phật bảo ông A-nan: “Ông trả-lời tôi rằng Như-lai co ngón tay làm thành nắm tay sáng-ngời, chói tâm và con mắt của ông; con mắt ông thì thấy được, còn ông lấy cái gì làm tâm để đối với cái nắm tay chói-sáng của tôi?”.

阿難言:「如來現今徵心所在,而我以心推窮尋逐,即能推者我將為心。」

A-nan ngôn: “Như-lai hiện kim trưng tâm sở tại, nhi ngã dĩ tâm suy cùng tầm trục, tức năng suy giả ngã tương vi tâm.”

Ông A-nan bạch: “Như-lai hiện nay gạn-hỏi tâm ở chỗ nào, tôi thì dùng tâm suy-nghĩ tìm-xét: Tức cái biết suy-nghĩ ấy, tôi lấy nó làm tâm”.

ĐOẠN V - CHỈ CÁI BIẾT SUY-XÉT CÓ THỂ-TÍNH

佛言:「咄!阿難!此非汝心!」

Phật ngôn: “Đốt! A-nan! Thử phi nhữ tâm!”

Phật bảo: “Sai rồi, A-nan, cái ấy không phải là tâm của ông”.

阿難矍然,避座、合掌,起立白佛:「此非我心,當名何等?」

A-nan quắc nhiên, tị tòa, hợp chưởng, khởi lập bạch Phật: “Thử phi ngã tâm, đương danh hà đẳng?”

Ông A-nan giựt-mình, rời chỗ ngồi, chấp tay đứng dậy bạch Phật: “Cái ấy không phải là tâm tôi thì gọi là cái gì?”

佛告阿難:「此是前塵虛妄相想,惑汝真性!由汝無始至于今生,認賊為子,失汝元常,故受輪轉。」

Phật cáo A-nan: “Thử thị tiền trần hư vọng tướng tưởng, hoặc nhữ chân tính! Do nhữ vô thủy chí vu kim sinh, nhận tặc vi tử, thất nhữ nguyên thường, cố thọ luân chuyển.”

Phật bảo ông A-nan: “Cái ấy là cái tưởng-tượng những tướng giả-dối tiền-trần, nó làm mê-lầm chân-tính của ông. Do từ vô-thủy cho đến đời này, ông nhận tên giặc ấy làm con, bỏ mất tính bản-lai thường-trụ nên phải chịu luân-hồi”.

阿難白佛言:「世尊!我佛寵弟,心愛佛故,令我出家;我心何獨供養如來,乃至遍歷恒沙國土承事諸佛及善知識,發大勇猛行諸一切難行法事,皆用此心;縱令謗法永退善根,亦因此心。若此發明不是心者,我乃無心同諸土木,離此覺知更無所有,云何如來說此非心?我實驚怖,兼此大眾無不疑惑,唯垂大悲開示未悟!」

A-nan bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Ngã Phật sủng đệ, tâm ái Phật cố, lệnh ngã xuất gia; ngã tâm hà độc cúng dường Như-lai, nãi chí biến lịch hằng sa quốc độ thừa sự chư Phật cập thiện tri thức, phát đại dũng mãnh hành chư nhất thiết nan hành pháp sự, giai dụng thử tâm; túng lệnh báng pháp vĩnh thoái thiện căn, diệc nhân thử tâm. Nhược thử phát minh bất thị tâm giả, ngã nãi vô tâm đồng chư thổ mộc, ly thử giác tri cánh vô sở hữu, vân hà Như-lai thuyết thử phi tâm? Ngã thực kinh bố, kiêm thử đại chúng vô bất nghi hoặc, duy thùy đại bi khai thị vị ngộ!”

Ông A-nan bạch Phật: “Thưa Thế-tôn, tôi là em yêu của Phật, vì tâm yêu Phật nên tôi xuất-gia. Tâm tôi chẳng những cúng-dường đức Như-lai, mà còn trải qua hằng-sa quốc-độ, thừa-sự chư Phật và các vị thiện-tri-thức; phát-lòng đại-dũng-mãnh, làm tất-cả những pháp-sự khó làm, là đều dùng cái tâm ấy. Dầu cho hủy-báng Phật-pháp, rời-bỏ hẳn thiện-căn, cũng nhân cái tâm ấy. Nay Phật phát-minh cái ấy không phải là tâm thì tôi thành không có tâm, như cây như đất, vì ngoài cái hay-biết ấy ra, tôi lại không còn gì nữa. Sao đức Như-lai lại bảo cái ấy không phải là tâm? Tôi thật kinh-sợ và cả trong đại-chúng nầy không ai là không nghi-hoặc, xin Phật rủ lòng từ-bi, chỉ-dạy cho những chỗ chưa giác-ngộ”.

爾時,世尊開示阿難及諸大眾,欲令心入無生法忍。於師子座摩阿難頂而告之言:「如來常說諸法所生,唯心所現。一切因果、世界、微塵,因心成體。阿難!若諸世界一切所有,其中乃至草葉縷結,詰其根元咸有體性;縱令虛空亦有名貌;何況清淨妙淨明心、性一切心而自無體?

Nhĩ thời, Thế-tôn khai thị A-nan cập chư đại chúng, dục lệnh tâm nhập vô sinh pháp nhẫn. Ư sư tử tòa ma A-nan đỉnh nhi cáo chi ngôn: “Như-lai thường thuyết chư pháp sở sinh, duy tâm sở hiện. Nhất thiết nhân quả, thế giới, vi trần, nhân tâm thành thể. A-nan! Nhược chư thế giới nhất thiết sở hữu, kỳ trung nãi chí thảo diệp lũ kết, cật kỳ căn nguyên hàm hữu thể tính; túng lệnh hư không diệc hữu danh mạo; hà huống thanh tịnh diệu tịnh minh tâm, tính nhất thiết tâm nhi tự vô thể?

Khi bấy giờ đức Thế-tôn chỉ-dạy ông A-nan và cả đại-chúng, khiến cho tâm được vô-sinh-pháp-nhẫn, nơi sư-tử-tọa, xoa đầu ông A-nan và bảo ông rằng: “Như-lai thường nói: Các pháp phát-sinh là duy-tâm biến-hiện, tất-cả nhân-quả, thế-giới, vi-trần, đều nhân cái tâm thành có thể-tính. A-nan, như trong các thế-giới, hết thảy sự-vật hiện có, cả đến ngọn cỏ lá, cây, sợi dây, thắt nút, gạn-xét cỗi-gốc, đều có thể-tính, dầu cho hư-không cũng có tên, có tướng; huống chi cái tâm sáng-suốt thanh-tịnh nhiệm-mầu, làm cho hết thảy sự vật có thể-tính mà tự mình lại không có thể-tính.

若汝執悋分別覺觀所了知性必為心者,此心即應離諸一切色、香、味、觸諸塵事業別有全性。如汝今者承聽我法,此則因聲而有分別。縱滅一切見、聞、覺、知,內守幽閑,猶為法塵分別影事。

Nhược nhữ chấp lận phân biệt giác quán sở liễu tri tính tất vi tâm giả, thử tâm tức ưng ly chư nhất thiết sắc, hương, vị, xúc chư trần sự nghiệp biệt hữu toàn tính. Như nhữ kim giả thừa thính ngã pháp, thử tắc nhân thanh nhi hữu phân biệt. Túng diệt nhất thiết kiến, văn, giác, tri, nội thủ u nhàn, do vi pháp trần phân biệt ảnh sự.

Nếu ông quyết-chấp cái tính hay-biết suy-xét phân-biệt là tâm của ông thì cái tâm ấy phải rời sự-nghiệp các trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, riêng có toàn-tính; chứ như hiện nay ông vâng nghe pháp-âm của tôi, đó là nhân cái tiếng mà có phân-biệt: dầu cho diệt hết tất-cả cái thấy, nghe, hay, biết, bên trong nắm-giữ cái u-nhàn, không biết, không nghĩ thì đó cũng còn là sự phân-biệt bóng-dáng pháp-trần mà thôi.

我非勅汝執為非心,但汝於心微細揣摩,若離前塵有分別性,即真汝心;若分別性離塵無體,斯則前塵分別影事。塵非常住,若變滅時此心則同龜毛、兔角,則汝法身同於斷滅,其誰修證無生法忍?」

Ngã phi sắc nhữ chấp vi phi tâm, đãn nhữ ư tâm vi tế sủy ma, nhược ly tiền trần hữu phân biệt tính, tức chân nhữ tâm; nhược phân biệt tính ly trần vô thể, tư tắc tiền trần phân biệt ảnh sự. Trần phi thường trụ, nhược biến diệt thời thử tâm tắc đồng quy mao, thỏ giác, tắc nhữ pháp thân đồng ư đoạn diệt, kỳ thùy tu chứng vô sinh pháp nhẫn?”

Chẳng phải tôi bảo ông chấp cái ấy không phải là tâm, nhưng ông phải, chính nơi tâm ông, suy-xét chín-chắn, nếu rời tiền-trần có tính phân-biệt, thì đó mới thật là tâm của ông. Nếu tính phân-biệt, rời tiền-trần, không còn tự-thể thì nó chỉ là sự phân-biệt bóng-dáng tiền-trần. Tiền-trần không phải thường-trụ, khi thay đổi diệt mất rồi, thì cái tâm nương vào tiền-trần ấy cũng đồng như lông rùa sừng thỏ và pháp-thân của ông cũng thành như đoạn-diệt, còn gì mà tu-chứng vô-sinh-pháp-nhẫn”.

ĐOẠN VI - CHỈ RÕ TÍNH-THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CON MẮT

即時阿難與諸大眾,默然自失。

Tức thời A-nan dữ chư đại chúng, mặc nhiên tự thất.

Lúc ấy ông A-nan cùng cả đại-chúng lặng-im ngơ-ngác.

佛告阿難:「世間一切諸修學人,現前雖成九次第定,不得漏盡成阿羅漢,皆由執此生死妄想,誤為真實。是故汝今雖得多聞,不成聖果。」

Phật cáo A-nan: “Thế gian nhất thiết chư tu học nhân, hiện tiền tuy thành cửu thứ đệ định, bất đắc lậu tận thành A-la-hán, giai do chấp thử sinh tử vọng tưởng, ngộ vi chân thực. Thị cố nhữ kim tuy đắc đa văn, bất thành thánh quả.”

Phật bảo ông A-nan: “Trong thế-gian, tất-cả những người tu-học, hiện tuy đã tu đến chín bậc định, nhưng không diệt hết được mê-lầm, thành A-la-hán, đều do chấp cái vọng-tưởng sống chết, lầm nó là tính chân-thật, vậy nên nay ông tuy được học rộng nghe nhiều, không thành chính-quả”.

阿難聞已,重復悲淚,五體投地,長跪合掌而白佛言:「自我從佛發心出家,恃佛威神,常自思惟:『無勞我修,將謂如來惠我三昧,不知身心本不相代,失我本心;雖身出家,心不入道,譬如窮子捨父逃逝。今日乃知雖有多聞,若不修行與不聞等,如人說食終不能飽。』世尊!我等今者二障所纏,良由不知寂常心性,唯願如來哀愍窮露,發妙明心,開我道眼!」

A-nan văn dĩ, trùng phục bi lệ, ngũ thể đầu địa, trường quỵ hợp chưởng nhi bạch Phật ngôn: “Tự ngã tùng Phật phát tâm xuất gia, thị Phật uy thần, thường tự tư duy: ‘Vô lao ngã tu, tương vị Như-lai huệ ngã tam-muội, bất tri thân tâm bản bất tương đại, thất ngã bản tâm; tuy thân xuất gia, tâm bất nhập đạo, thí như cùng tử xả phụ đào thệ. Kim nhật nãi tri tuy hữu đa văn, nhược bất tu hành dữ bất văn đẳng, như nhân thuyết thực chung bất năng bão.’ Thế-tôn! Ngã đẳng kim giả nhị chướng sở triền, lương do bất tri tịch thường tâm tính, duy nguyện Như-lai ai mẫn cùng lộ, phát diệu minh tâm, khai ngã đạo nhãn!”

Ông A-nan nghe rồi, lại đau-xót khóc-lóc, năm vóc gieo xuống đất, quỳ dài chấp tay mà bạch Phật rằng: “Từ khi tôi theo Phật phát-tâm xuất-gia, ỷ-thị oai-thần của Phật, thường tự mình suy-nghĩ, không cần phải tu, hầu như cho rằng đức Như-lai sẽ ban cho phép Tam-muội, không biết thân tâm vốn không thay-thế nhau được; bỏ mất bản-tâm của tôi; thân tuy xuất-gia nhưng tâm không đi vào chính-đạo, cũng như người con cùng-khổ, bỏ cha trốn-lánh. Ngày nay mới biết, tuy được nghe Phật-pháp nhiều, nếu không tu-hành thì chẳng khác gì người không nghe, cũng như người ta nói ăn mà không ăn, rốt-cuộc không thể no được. Thưa Thế-tôn, chúng tôi hiện nay còn bị hai chướng ràng-buộc, do vì không biết tâm-tính yên-lặng thường-trụ, xin đức Như-lai thương-xót kẻ nghèo-khó rách-rưới, phát-khởi tâm nhiệm-mầu sáng-suốt, mở đạo-nhãn cho chúng tôi”.

即時如來從胸卍字涌出寶光,其光晃昱有百千色。十方微塵普佛世界一時周遍,遍灌十方所有寶剎諸如來頂,旋至阿難及諸大眾。告阿難言:「吾今為汝建大法幢,亦令十方一切眾生獲妙微密性淨明心,得清淨眼。

Tức thời Như-lai tùng hung vạn tự dũng xuất bảo quang, kỳ quang hoảng dục hữu bách thiên sắc. Thập phương vi trần phổ Phật thế giới nhất thời chu biến, biến quán thập phương sở hữu bảo sát chư Như-lai đỉnh, toàn chí A-nan cập chư đại chúng. Cáo A-nan ngôn: “Ngô kim vị nhữ kiến đại pháp tràng, diệc lệnh thập phương nhất thiết chúng sinh hoạch diệu vi mật tính tịnh minh tâm, đắc thanh tịnh nhãn.

Lúc ấy đức Như-lai từ chữ Vạn trước ngực, phóng ra hào-quang báu, hào-quang ấy rực-rỡ có trăm nghìn sắc, sáng khắp một lúc tất-cả thế-giới chư Phật mười phương số như vi-trần. Hào-quang soi khắp trên đỉnh các đức Như-lai Thập phương bảo-sát, xoay về soi đến ông A-nan và cả đại-chúng”, rồi Phật bảo ông A-nan rằng: “Nay tôi vì ông dựng pháp-tràng lớn, đồng-thời khiến cho tất-cả thập phương chúng-sinh được tâm-tính nhiệm-mầu sâu-kín, trong-sạch, sáng-suốt và đạo-nhãn thanh-tịnh.

「阿難!汝先答我見光明拳,此拳光明因何所有?云何成拳?汝將誰見?」

“A-nan! Nhữ tiên đáp ngã kiến quang minh quyền, thử quyền quang minh nhân hà sở hữu? Vân hà thành quyền? Nhữ tương thùy kiến?”

A-nan, trước ông trả-lời rằng thấy nắm tay chói-sáng, cái chói-sáng nắm tay ấy do đâu mà có, làm sao thành ra nắm tay, ông đem cái gì mà thấy?”

阿難言:「由佛全體閻浮檀金,赩如寶山,清淨所生,故有光明;我實眼觀;五輪指端屈握示人,故有拳相。」

A-nan ngôn: “Do Phật toàn thể Diêm-phù-đàn kim, hích như bảo sơn, thanh tịnh sở sinh, cố hữu quang minh; ngã thực nhãn quán; ngũ luân chỉ đoan khuất ác thị nhân, cố hữu quyền tướng.”

Ông A-nan bạch: “Toàn thân Phật như vàng Diêm-phù-đàn, sáng-ngời như núi báu, do đức-tính thanh-tịnh sinh ra nên có hào-quang chói-sáng. Thật tôi lấy con mắt mà thấy năm ngón tay Phật co nắm lại, giơ cho người xem, nên có tướng nắm tay”.

佛告阿難:「如來今日實言告汝:諸有智者要以譬喻而得開悟。阿難!譬如我拳,若無我手不成我拳,若無汝眼不成汝見;以汝眼根例我拳理,其義均不?」

Phật cáo A-nan: “Như-lai kim nhật thực ngôn cáo nhữ: Chư hữu trí giả yếu dĩ thí dụ nhi đắc khai ngộ. A-nan! Thí như ngã quyền, nhược vô ngã thủ bất thành ngã quyền, nhược vô nhữ nhãn bất thành nhữ kiến; dĩ nhữ nhãn căn lệ ngã quyền lý, kỳ nghĩa quân phủ?”

Phật bảo ông A-nan: “Như-lai ngày nay xác-thật bảo ông. Những người có trí cần do ví-dụ mà được khai-ngộ. A-nan, ví như nắm tay tôi, nếu không có bàn tay tôi thì không thành nắm tay tôi, lại nếu không có con mắt ông, thì không thành cái thấy của ông. Lấy cái thấy của ông mà so-sánh với nắm tay của tôi, ý-nghĩa có cân nhau không?”

阿難言:「唯然!世尊!既無我眼,不成我見;以我眼根例如來拳,事義相類。」

A-nan ngôn: “Duy nhiên! Thế-tôn! Ký vô ngã nhãn, bất thành ngã kiến; dĩ ngã nhãn căn lệ Như-lai quyền, sự nghĩa tương loại.”

Ông A-nan bạch Phật: “Đúng vậy, thưa Thế-tôn, đã không có con mắt của tôi thì không thành cái thấy của tôi, đem cái thấy của tôi so với nắm tay Như-lai, sự nghĩa giống nhau không khác”.

佛告阿難:「汝言相類,是義不然。何以故?如無手人,拳畢竟滅;彼無眼者,非見全無。所以者何?汝試於途詢問盲人:『汝何所見?』彼諸盲人必來答汝:『我今眼前唯見黑暗,更無他矚。』以是義觀,前塵自暗,見何虧損?」

Phật cáo A-nan: “Nhữ ngôn tương loại, thị nghĩa bất nhiên. Hà dĩ cố? Như vô thủ nhân, quyền tất cánh diệt; bỉ vô nhãn giả, phi kiến toàn vô. Sở dĩ giả hà? Nhữ thí ư đồ tuân vấn manh nhân: ‘Nhữ hà sở kiến?’ Bỉ chư manh nhân tất lai đáp nhữ: ‘Ngã kim nhãn tiền duy kiến hắc ám, cánh vô tha chúc.’ Dĩ thị nghĩa quán, tiền trần tự ám, kiến hà khuy tổn?”

Phật bảo ông A-nan: “Ông nói giống nhau, nghĩa ấy không đúng. Vì sao? Như người không có bàn tay thì tuyệt-nhiên không có nắm tay; chứ người không có con mắt kia, không phải hoàn-toàn không thấy. Là vì làm sao? Ông thử ra đường hỏi những người đui: Anh thấy cái gì? Thì những người đui kia chắc sẽ trả-lời: Hiện nay trước mắt tôi chỉ thấy tối đen, không thấy gì khác. Lấy cái nghĩa ấy mà xét thì tiền-trần tự tối, chứ cái thấy nào có hao-kém gì”.

阿難言:「諸盲眼前唯覩黑暗,云何成見?」佛告阿難:「諸盲無眼唯觀黑暗,與有眼人處於暗室,二黑有別、為無有別?」

A-nan ngôn: “Chư manh nhãn tiền duy đổ hắc ám, vân hà thành kiến?” Phật cáo A-nan: “Chư manh vô nhãn duy quán hắc ám, dữ hữu nhãn nhân xử ư ám thất, nhị hắc hữu biệt, vi vô hữu biệt?”

Ông A-nan bạch Phật: “Những người đui trước mắt chỉ thấy tối đen, sao gọi là thấy được”. Phật bảo ông A-nan: “Các người đui không có con mắt chỉ thấy tối đen, so với người có con mắt ở trong nhà tối thì hai cái tối đen ấy khác nhau hay không khác nhau?

「如是,世尊!此暗中人與彼群盲,二黑校量,曾無有異。」

“Như thị, Thế-tôn! Thử ám trung nhân dữ bỉ quần manh, nhị hắc hiệu lượng, tằng vô hữu dị.”

- Thật vậy, thưa Thế-tôn, người ở trong nhà tối với những người đui kia, so-sánh hai cái tối đen thật không thể khác nhau.

「阿難!若無眼人全見前黑,忽得眼光,還於前塵見種種色名眼見者;彼暗中人全見前黑,忽獲燈光,亦於前塵見種種色應名燈見。若燈見者,燈能有見,自不名燈。又則燈觀,何關汝事?是故當知,燈能顯色,如是見者是眼非燈;眼能顯色,如是見性是心非眼。」

“A-nan! Nhược vô nhãn nhân toàn kiến tiền hắc, hốt đắc nhãn quang, hoàn ư tiền trần kiến chủng chủng sắc danh nhãn kiến giả; bỉ ám trung nhân toàn kiến tiền hắc, hốt hoạch đăng quang, diệc ư tiền trần kiến chủng chủng sắc ưng danh đăng kiến. Nhược đăng kiến giả, đăng năng hữu kiến, tự bất danh đăng. Hựu tắc đăng quán, hà quan nhữ sự? Thị cố đương tri, đăng năng hiển sắc, như thị kiến giả thị nhãn phi đăng; nhãn năng hiển sắc, như thị kiến tính thị tâm phi nhãn.”

- A-nan, nếu người không có con mắt, thấy trước hoàn-toàn tối đen, bỗng-nhiên được con mắt sáng, trở lại thấy các thứ sắc nơi tiền-trần mà gọi là con mắt thấy; thì người ở trong nhà tối kia, thấy trước hoàn-toàn tối đen, bỗng-nhiên được cái đèn sáng, cũng thấy các thứ sắc nơi tiền-trần, lẽ ra phải gọi là cái đèn thấy. Nếu như cái đèn thấy thì đèn đã thấy được, tự-nhiên không thể gọi là đèn; lại cái đèn nó thấy thì dính-líu gì đến ông. Vậy nên biết rằng đèn làm tỏ các sắc, nhưng thấy như vậy là mắt chứ không phải đèn; mắt làm tỏ các sắc, nhưng thấy như vậy là tâm chứ không phải mắt”.

阿難雖復得聞是言,與諸大眾口已默然,心未開悟。猶冀如來慈音宣示,合掌清心佇佛悲誨。

A-nan tuy phục đắc văn thị ngôn, dữ chư đại chúng khẩu dĩ mặc nhiên, tâm vị khai ngộ. Do ký Như-lai từ âm tuyên thị, hợp chưởng thanh tâm trữ Phật bi hối.

Ông A-nan tuy được lời Phật dạy như vậy, cùng với đại-chúng, miệng tuy im-lặng, tâm chưa khai-ngộ, còn mong đức Như-lai từ-tâm chỉ-bày, chấp tay sạch lòng, đợi Phật dạy-bảo.

ĐOẠN VII - GẠN-HỎI Ý-NGHĨA HAI CHỮ “KHÁCH-TRẦN” ĐỂ CHỈ RA CÁI THẤY LÀ CHỦ, LÀ KHÔNG

爾時,世尊舒兜羅綿網相光手,開五輪指,誨勅阿難及諸大眾:「我初成道,於鹿園中,為阿若多五比丘等及汝四眾言:『一切眾生不成菩提及阿羅漢,皆由客塵煩惱所誤。』汝等當時因何開悟,今成聖果?」

Nhĩ thời, Thế-tôn thư đâu-la-miên võng tướng quang thủ, khai ngũ luân chỉ, hối sắc A-nan cập chư đại chúng: “Ngã sơ thành đạo, ư Lộc viên trung, vi A-nhã-đa ngũ tỳ-kheo đẳng cập nhữ tứ chúng ngôn: ‘Nhất thiết chúng sinh bất thành Bồ-đề cập A-la-hán, giai do khách trần phiền não sở ngộ.’ Nhữ đẳng đương thời nhân hà khai ngộ, kim thành thánh quả?”

Khi bấy giờ đức Thế-tôn ruỗi tay Đâu-la-miên sáng-ngời, mở năm ngón tay, bảo ông A-nan và đại-chúng rằng: “Lúc tôi mới thành-đạo, ở trong Lộc-viên, có dạy bọn ông A-nhã-đa, năm vị tỷ-khưu và tứ-chúng rằng” Tất-cả chúng-sinh không thành đạo Bồ-đề và A-la-hán, là do những phiền-não khách-trần mê-hoặc. Thuở đó, bọn ông do đâu mà khai-ngộ, hiện nay thành được thánh-quả?”

時憍陳那起立白佛:「我今長老,於大眾中獨得解名,因悟客塵二字成果。世尊!譬如行客投寄旅亭,或宿或食,食宿事畢,俶裝前途,不遑安住;若實主人,自無攸往。如是思惟:『不住名客,住名主人,以不住者名為客義。』又如新霽,清暘昇天,光入隙中,發明空中諸有塵相;塵質搖動,虛空寂然。如是思惟:『澄寂名空,搖動名塵,以搖動者名為塵義。』」

Thời Kiều-trần-na khởi lập bạch Phật: “Ngã kim trưởng lão, ư đại chúng trung độc đắc giải danh, nhân ngộ khách trần nhị tự thành quả. Thế-tôn! Thí như hành khách đầu ký lữ đình, hoặc túc hoặc thực, thực túc sự tất, thục trang tiền đồ, bất hoàng an trụ; nhược thực chủ nhân, tự vô du vãng. Như thị tư duy: ‘Bất trụ danh khách, trụ danh chủ nhân, dĩ bất trụ giả danh vi khách nghĩa.’ Hựu như tân tạnh, thanh dương thăng thiên, quang nhập khích trung, phát minh không trung chư hữu trần tướng; trần chất dao động, hư không tịch nhiên. Như thị tư duy: ‘Trừng tịch danh không, dao động danh trần, dĩ dao động giả danh vi trần nghĩa.’”

Khi ấy ông Kiều-trần-na đứng dậy bạch Phật: “Tôi nay già-cả, ở trong đại-chúng, riêng được cái danh là “Hiểu”, do tôi ngộ được hai chữ khách-trần mà thành chính-quả. Bạch Thế-tôn, ví-như người khách đi đường, vào trọ quán-xá, hoặc ngủ hoặc ăn, ăn ngủ xong rồi, xếp đồ lên đường, không ở yên được; nếu thật là người chủ, tự-nhiên không phải đi đâu. Tôi nghĩ như vầy: Không ở yên thì gọi là khách, còn ở yên thì gọi là chủ. Tôi lấy cái “không ở yên” làm ý-nghĩa chữ khách. Lại như mới tạnh, mặt trời chiếu-sáng trên cao, ánh sáng vào trong lỗ hỡ, bày-tỏ hình-dáng bụi trần giữa hư-không. Trần thì lay-động, hư-không thì yên-lặng. Tôi nghĩ như vậy: Đứng-lặng gọi là không, lay-động gọi là trần, tôi lấy cái “lay-động” làm ý-nghĩa chữ trần”.

佛言:「如是。」

Phật ngôn: “Như thị.”

Phật dạy: “Đúng thế”.

即時如來於大眾中,屈五輪指,屈已復開、開已又屈,謂阿難言:「汝今何見?」

Tức thời Như-lai ư đại chúng trung, khuất ngũ luân chỉ, khuất dĩ phục khai, khai dĩ hựu khuất, vị A-nan ngôn: “Nhữ kim hà kiến?”

Khi bấy giờ đức Như-lai ở trong đại-chúng co năm ngón tay, co rồi lại mở, mở rồi lại co, bảo ông A-nan rằng: “Nay ông thấy gì?”.

阿難言:「我見如來百寶輪掌,眾中開合。」

A-nan ngôn: “Ngã kiến Như-lai bách bảo luân chưởng, chúng trung khai hợp.”

Ông A-nan đáp: “Tôi thấy bàn tay Bách-bảo-luân của Như-lai, ở trong chúng, lúc mở lúc nắm”.

佛告阿難:「汝見我手眾中開合,為是我手有開有合?為復汝見有開有合?」

Phật cáo A-nan: “Nhữ kiến ngã thủ chúng trung khai hợp, vi thị ngã thủ hữu khai hữu hợp? Vi phục nhữ kiến hữu khai hữu hợp?”

Phật bảo ông A-nan: “Ông thấy tay tôi ở trong chúng khi mở khi nắm, đó là tay tôi có mở có nắm hay là cái thấy của ông có mở có nắm?”.

阿難言:「世尊寶手眾中開合,我見如來手自開合,非我見性自開自合。」

A-nan ngôn: “Thế-tôn bảo thủ chúng trung khai hợp, ngã kiến Như-lai thủ tự khai hợp, phi ngã kiến tính tự khai tự hợp.”

Ông A-nan bạch: “Bàn tay báu của Thế-tôn ở trong chúng khi mở khi nắm; tôi thấy bàn tay Như-lai tự mở tự nắm, chứ không phải tính-thấy của tôi có mở có nắm”.

佛言:「誰動誰靜?」

Phật ngôn: “Thùy động thùy tĩnh?”

Phật bảo: “Cái gì động, cái gì tĩnh?”.

阿難言:「佛手不住,而我見性尚無有靜,誰為無住!」

A-nan ngôn: “Phật thủ bất trụ, nhi ngã kiến tính thượng vô hữu tĩnh, thùy vi vô trụ!”

Ông A-nan bạch: “Bàn tay Phật không ở yên, chứ tính-thấy của tôi còn không có tĩnh, lấy gì gọi là không ở yên nữa”.

佛言:「如是。」

Phật ngôn: “Như thị.”

Phật dạy: “Đúng thế”,

如來於是從輪掌中,飛一寶光在阿難右,即時阿難迴首右𥌊;又放一光在阿難左,阿難又則迴首左𥌊。佛告阿難:「汝頭今日何因搖動?」

Như-lai ư thị tùng luân chưởng trung, phi nhất bảo quang tại A-nan hữu, tức thời A-nan hồi thủ hữu phán; hựu phóng nhất quang tại A-nan tả, A-nan hựu tắc hồi thủ tả phán. Phật cáo A-nan: “Nhữ đầu kim nhật hà nhân dao động?”

Lúc ấy đức Như-lai từ trong bàn tay, phát một đạo hào-quang báu qua bên phải ông A-nan, ông A-nan liền quay đầu trông qua bên phải, Phật lại phát một đạo hào-quang qua bên trái ông A-nan, ông A-nan lại cũng quay đầu trông qua bên trái. Phật bảo ông A-nan: “Hôm nay đầu ông vì sao lại lay-động?”

阿難言:「我見如來出妙寶光來我左右,故左右觀,頭自搖動。」

A-nan ngôn: “Ngã kiến Như-lai xuất diệu bảo quang lai ngã tả hữu, cố tả hữu quán, đầu tự dao động.”

Ông A-nan bạch: “Tôi thấy đức Như-lai phát hào-quang báu qua bên trái và qua bên phải của tôi nên tôi trông qua bên trái bên phải, đầu tự lay-động.

「阿難!汝𥌊佛光左右動頭,為汝頭動?為復見動?」

“A-nan! Nhữ phán Phật quang tả hữu động đầu, vi nhữ đầu động? Vi phục kiến động?”

- A-nan, ông trông hào-quang của Phật mà lay-động cái đầu, quay qua bên phải bên trái, đó là cái đầu của ông động hay là cái thấy động?

「世尊!我頭自動,而我見性尚無有止,誰為搖動!」

“Thế-tôn! Ngã đầu tự động, nhi ngã kiến tính thượng vô hữu chỉ, thùy vi dao động!”

- Thưa Thế-tôn, đầu tôi tự-động chứ tính-thấy của tôi còn không ở đâu, lấy gì mà lay-động”.

佛言:「如是。」於是如來普告大眾:「若復眾生,以搖動者名之為塵,以不住者名之為客;汝觀阿難頭自動搖,見無所動。又汝觀我手自開合,見無舒卷。云何汝今以動為身?以動為境?從始洎終念念生滅遺失真性,顛倒行事,性心失真,認物為己;輪迴是中,自取流轉!」

Phật ngôn: “Như thị.” Ư thị Như-lai phổ cáo đại chúng: “Nhược phục chúng sinh, dĩ dao động giả danh chi vi trần, dĩ bất trụ giả danh chi vi khách; nhữ quán A-nan đầu tự động dao, kiến vô sở động. Hựu nhữ quán ngã thủ tự khai hợp, kiến vô thư quyển. Vân hà nhữ kim dĩ động vi thân? Dĩ động vi cảnh? Tùng thủy ký chung niệm niệm sinh diệt di thất chân tính, điên đảo hành sự, tính tâm thất chân, nhận vật vi kỷ; luân hồi thị trung, tự thủ lưu chuyển!”

Phật dạy: “Đúng thế”. Lúc bấy giờ đức Như-lai bảo với vả đại-chúng rằng: “Như các chúng-sinh lấy cái lay-động mà gọi là trần, lấy cái không ở yên mà gọi là khách, thì các ông hãy xem ông A-nan, đầu tự lay-động mà cái thấy không lay-động, lại hãy xem bàn tay tôi tự mở tự nắm mà cái thấy không ruỗi không co. Làm sao các ông hiện nay lại lấy cái động làm thân, lấy cái động làm cảnh, tự đầu đến cuối, niệm-niệm sinh-diệt, bỏ mất chân-tính, làm việc trái-ngược; tâm-tính mất chỗ chân-thật, nhận vật làm mình, xoay-vần trong ấy, tự-nhận lấy cái trôi-lăn trong lục-đạo”.

大佛頂萬行首楞嚴經卷第一

Đại Phật đỉnh vạn hạnh Thủ-lăng-nghiêm kinh quyển đệ nhất

(Hết Quyển Nhất — bản dịch không có dòng kết quyển tương ứng)

Hết Quyển Nhất

Tìm kinh, kệ, chú, truyện, pháp âm…