Quyển Sáu

Ghi chú: (1) Việt văn giữ nguyên theo ebook nguồn; chỉ chuẩn hoá glyph font cũ. (2) QUAN TRỌNG: ebook nguồn THIẾU 4 đoạn trong phần 32 ứng-thân — Đế-thích thân, Tứ-thiên-vương thân, Tỷ-kheo thân, Khẩn-na-la thân; các khối này được giữ nguyên Hán văn và đánh dấu "(đoạn này thiếu trong ebook nguồn)" ở tầng VIỆT, cần bổ sung từ bản in của dịch giả. (3) Toàn bộ Hán văn các khối ghép lại đã kiểm chứng khớp 100% từng chữ với nguyên bản CBETA quyển 6.

QUYỂN SÁU

ĐOẠN XXVII - VIÊN-THÔNG VỀ NHĨ-CĂN

Chi 1. - Thuật lại chỗ tu-chứng.

大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經卷第六唐天竺沙門般剌蜜帝譯

Đại Phật đỉnh Như-lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ-tát vạn hạnh Thủ-lăng-nghiêm kinh quyển đệ lục Đường Thiên-trúc sa môn Bát-lạt-mật-đế dịch

(Đề quyển — bản dịch không lặp lại đề-mục ở đầu quyển)

爾時,觀世音菩薩即從座起,頂禮佛足而白佛言:「世尊!憶念我昔無數恒河沙劫,於時有佛出現於世,名觀世音。我於彼佛發菩提心,彼佛教我從聞思修入三摩地。

Nhĩ thời, quán thế âm Bồ-tát tức tùng tòa khởi, đỉnh lễ Phật túc nhi bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Ức niệm ngã tích vô số hằng hà sa kiếp, ư thời hữu Phật xuất hiện ư thế, danh quán thế âm. Ngã ư bỉ Phật phát Bồ-đề tâm, bỉ Phật giáo ngã tùng văn tư tu nhập tam-ma địa.

Khi bấy-giờ, ngài Quán-thế-âm Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh-lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: "Thưa Thế-tôn, tôi nhớ vô-số hằng-sa kiếp về trước, có đức Phật ra đời, hiệu là Quán-thế-âm; từ đức Phật kia, tôi phát-tâm Bồ-đề. Đức Phật kia dạy tôi, do nghe, nghĩ và tu, mà vào Tam-ma-đề.

初於聞中入流亡所;所入既寂,動靜二相了然不生。如是漸增,聞所聞盡;盡聞不住,覺所覺空;空覺極圓,空所空滅。生滅既滅,寂滅現前,忽然超越世出世間,十方圓明,獲二殊勝:一者、上合十方諸佛本妙覺心,與佛如來同一慈力。二者、下合十方一切六道眾生,與諸眾生同一悲仰。

Sơ ư văn trung nhập lưu vong sở; sở nhập ký tịch, động tĩnh nhị tướng liễu nhiên bất sinh. Như thị tiệm tăng, văn sở văn tận; tận văn bất trụ, giác sở giác không; không giác cực viên, không sở không diệt. Sinh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền, hốt nhiên siêu việt thế xuất thế gian, thập phương viên minh, hoạch nhị thù thắng: Nhất giả, thượng hợp thập phương chư Phật bản diệu giác tâm, dữ Phật Như-lai đồng nhất từ lực. Nhị giả, hạ hợp thập phương nhất thiết lục đạo chúng sinh, dữ chư chúng sinh đồng nhất bi ngưỡng.

Ban đầu, ở trong tính-nghe, vào được dòng viên-thông, không còn tướng sở-văn nữa. Trần-tướng đã vẳng-lặng, hai tướng động, tĩnh rõ thật không sinh. Như vậy thêm lần, các tướng năng-văn, sở-văn đều hết. Không dừng lại nơi chỗ dứt hết năng-văn, sở-văn mà tiến lên nữa, thì năng-giác, sở-giác, đều không. Không-giác tột bậc viên-mãn, các tướng năng-không, sở-không đều diệt. Sinh-diệt đã diệt, thì bản-tính tịch-diệt hiện-tiền. Bỗng nhiên, vượt ngoài thế-gian và xuất thế-gian, sáng-suốt cùng khắp mười phương, được hai cái thù-thắng: Một là, trên hợp với bản-giác-diệu-tâm thập phương chư Phật, cùng với chư Phật Như-lai đồng một từ-lực; hai là, dưới hợp với tất-cả chúng-sinh lục-đạo mười phương, cùng với các chúng-sinh đồng một bi-ngưỡng.

Chi 2. - Do từ-lực, hiện ra 32 ứng-thân

「世尊!由我供養觀音如來,蒙彼如來授我如幻聞薰聞修金剛三昧。與佛如來同慈力故,令我身成三十二應入諸國土。

“Thế-tôn! Do ngã cúng dường quán âm Như-lai, mông bỉ Như-lai thụ ngã như huyễn văn huân văn tu kim cương tam-muội. Dữ Phật Như-lai đồng từ lực cố, lệnh ngã thân thành tam thập nhị ưng nhập chư quốc độ.

Bạch Thế-tôn, do tôi cúng-dường đức Quán-âm Như-lai, nhờ Ngài truyền-thụ cho tôi Như-huyễn Văn-huân Văn-tu Kim-cương-tam-muội, được cùng chư Phật đồng một từ-lực, nên làm cho thân tôi thành-tựu 32 ứng-thân vào các cõi-nước.

世尊!若諸菩薩入三摩地,進修無漏勝解現圓;我現佛身而為說法,令其解脫。

Thế-tôn! Nhược chư Bồ-tát nhập tam-ma địa, tiến tu vô lậu thắng giải hiện viên; ngã hiện Phật thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ giải thoát.

Bạch Thế-tôn, nếu các vị Bồ-tát vào Tam-ma-đề, tiến-tu pháp vô-lậu, thắng-giải hiện đã viên-mãn, tôi hiện ra thân Phật, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được giải-thoát.

若諸有學寂靜妙明,勝妙現圓;我於彼前,現獨覺身而為說法,令其解脫。

Nhược chư hữu học tịch tĩnh diệu minh, thắng diệu hiện viên; ngã ư bỉ tiền, hiện độc giác thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ giải thoát.

Nếu các hàng hữu-học tu phép Diệu-minh vẳng-lặng, chỗ thắng-diệu đã viên-mãn. Tôi ở trước người kia, hiện ra thân Độc-giác, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được giải-thoát.

若諸有學斷十二緣,緣斷勝性,勝妙現圓;我於彼前,現緣覺身而為說法,令其解脫。

Nhược chư hữu học đoạn thập nhị duyên, duyên đoạn thắng tính, thắng diệu hiện viên; ngã ư bỉ tiền, hiện duyên giác thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ giải thoát.

Nếu các hàng hữu-học đoạn 12 Nhân-duyên; do các nhân-duyên đã đoạn mà phát ra thắng-tính và thắng-tính đó hiện đã viên-mãn, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Duyên-giác, vì họ mà thuyết-pháp khiến cho được giải-thoát.

若諸有學得四諦空,修道入滅,勝性現圓;我於彼前,現聲聞身而為說法,令其解脫。

Nhược chư hữu học đắc tứ đế không, tu đạo nhập diệt, thắng tính hiện viên; ngã ư bỉ tiền, hiện thanh văn thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ giải thoát.

Nếu các hàng hữu-học được phép-không của Tứ-đế, tu đạo-đế vào diệt-đế, thắng-tính hiện viên-mãn, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Thanh-văn, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được giải-thoát.

若諸眾生欲心明悟,不犯欲塵,欲身清淨;我於彼前,現梵王身而為說法,令其解脫。

Nhược chư chúng sinh dục tâm minh ngộ, bất phạm dục trần, dục thân thanh tịnh; ngã ư bỉ tiền, hiện phạn vương thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ giải thoát.

Nếu chúng-sinh muốn tâm được tỏ-ngộ, không phạm vào cảnh ngũ-dục và muốn cho thân được thanh-tịnh, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Phạm-vương, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được giải-thoát. Nếu các chúng-sinh muốn làm Thiên-chúa, thống-lĩnh chư thiên, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Đế-thích, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若諸眾生欲為天主,統領諸天;我於彼前,現帝釋身而為說法,令其成就。

Nhược chư chúng sinh dục vi thiên chủ, thống lãnh chư thiên; ngã ư bỉ tiền, hiện đế thích thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

(đoạn này thiếu trong ebook nguồn — bản dịch gốc có, cần bổ sung từ bản in)

若諸眾生欲身自在,遊行十方;我於彼前,現自在天身而為說法,令其成就。

Nhược chư chúng sinh dục thân tự tại, du hành thập phương; ngã ư bỉ tiền, hiện tự tại thiên thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu các chúng-sinh muốn thân được tự-tại, đi khắp mười phương, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Tự-tại-thiên, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若諸眾生欲身自在,飛行虛空;我於彼前,現大自在天身而為說法,令其成就。

Nhược chư chúng sinh dục thân tự tại, phi hành hư không; ngã ư bỉ tiền, hiện đại tự tại thiên thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu các chúng-sinh muốn thân được tự-tại, bay đi trên hư-không, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Đại-tự-tại-thiên, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若諸眾生愛統鬼神,救護國土;我於彼前,現天大將軍身而為說法,令其成就。

Nhược chư chúng sinh ái thống quỷ thần, cứu hộ quốc độ; ngã ư bỉ tiền, hiện thiên đại tương quân thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu các chúng-sinh muốn thống-lĩnh quỷ-thần, cứu-giúp cõi-nước, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Thiên-đại-tướng-quân, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若諸眾生愛統世界,保護眾生;我於彼前,現四天王身而為說法,令其成就。

Nhược chư chúng sinh ái thống thế giới, bảo hộ chúng sinh; ngã ư bỉ tiền, hiện tứ thiên vương thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

(đoạn này thiếu trong ebook nguồn — bản dịch gốc có, cần bổ sung từ bản in)

若諸眾生愛生天宮,驅使鬼神;我於彼前,現四天王國太子身而為說法,令其成就。

Nhược chư chúng sinh ái sinh thiên cung, khu sử quỷ thần; ngã ư bỉ tiền, hiện tứ thiên vương quốc thái tử thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu các chúng-sinh muống sinh nơi thiên-cung, sai khiến quỷ-thần, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Thái-tử, con của Tứ-thiên-vương, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若諸眾生樂為人主;我於彼前,現人王身而為說法,令其成就。

Nhược chư chúng sinh lạc vi nhân chủ; ngã ư bỉ tiền, hiện nhân vương thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu các chúng-sinh muốn làm vua cõi người, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Vua, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若諸眾生愛主族姓,世間推讓;我於彼前,現長者身而為說法,令其成就。

Nhược chư chúng sinh ái chủ tộc tính, thế gian suy nhượng; ngã ư bỉ tiền, hiện trưởng giả thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu các chúng-sinh muốn làm chủ gia-đình danh-tiếng, thế-gian kính-nhường, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Trưởng-giả vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若諸眾生愛談名言,清淨自居;我於彼前,現居士身而為說法,令其成就。

Nhược chư chúng sinh ái đàm danh ngôn, thanh tịnh tự cư; ngã ư bỉ tiền, hiện cư sĩ thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu các chúng-sinh thích đàm-luận những lời hay, giữ mình trong-sạch, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Cư-sĩ, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若諸眾生愛治國土,剖斷邦邑;我於彼前,現宰官身而為說法,令其成就。

Nhược chư chúng sinh ái trị quốc độ, phẫu đoạn bang ấp; ngã ư bỉ tiền, hiện tể quan thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu các chúng-sinh muốn trị cõi-nước, chia-đoán các bang, các ấp, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Tể-quan, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若諸眾生愛諸數術,攝衛自居;我於彼前,現婆羅門身而為說法,令其成就。

Nhược chư chúng sinh ái chư số thuật, nhiếp vệ tự cư; ngã ư bỉ tiền, hiện bà-la-môn thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu các chúng-sinh thích các số-thuật, tự-mình nhiếp-tâm giữ thân, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Bà-la-môn, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu. Nếu có người con trai muốn học phép xuất-gia, giữ các giới-luật, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Tỷ-khưu, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若有男子好學出家,持諸戒律;我於彼前,現比丘身而為說法,令其成就。

Nhược hữu nam tử hiếu học xuất gia, trì chư giới luật; ngã ư bỉ tiền, hiện tỳ-kheo thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

(đoạn này thiếu trong ebook nguồn — bản dịch gốc có, cần bổ sung từ bản in)

若有女子好學出家,持諸禁戒;我於彼前,現比丘尼身而為說法,令其成就。

Nhược hữu nữ tử hiếu học xuất gia, trì chư cấm giới; ngã ư bỉ tiền, hiện tỳ-kheo ni thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có người con gái muốn học phép xuất-gia, giữ các cấm-giới, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Tỷ-khưu-ni, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若有男子樂持五戒;我於彼前,現優婆塞身而為說法,令其成就。

Nhược hữu nam tử lạc trì ngũ giới; ngã ư bỉ tiền, hiện ưu-bà-tắc thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có người con trai thích giữ ngũ-giới, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Ưu-bà-tắc, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若復女子五戒自居;我於彼前,現優婆夷身而為說法,令其成就。

Nhược phục nữ tử ngũ giới tự cư; ngã ư bỉ tiền, hiện ưu-bà-di thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có người con gái tự giữ ngũ-giới, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Ưu-bà-di, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若有女人內政立身,以修家國;我於彼前,現女主身及國夫人、命婦、大家而為說法,令其成就。

Nhược hữu nữ nhân nội chính lập thân, dĩ tu gia quốc; ngã ư bỉ tiền, hiện nữ chủ thân cập quốc phu nhân, mệnh phụ, đại gia nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có người con gái lập-thân trong nội-chính, để tu-sửa nhà nước, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Nữ-chúa hay thân Quốc-phu-nhân, mệnh-phụ, đại-gia, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若有眾生不壞男根;我於彼前,現童男身而為說法,令其成就。

Nhược hữu chúng sinh bất hoại nam căn; ngã ư bỉ tiền, hiện đồng nam thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có chúng-sinh không phá nam-căn, tôi ở trước người kia, hiện ra thân đồng-nam, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若有處女愛樂處身,不求侵暴;我於彼前,現童女身而為說法,令其成就。

Nhược hữu xứ nữ ái nhạo xứ thân, bất cầu xâm bạo; ngã ư bỉ tiền, hiện đồng nữ thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có người xử-nữ, thích thân xử-nữ, không cầu sự xâm-bạo, tôi ở trước người kia, hiện ra thân đồng-nữ, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若有諸天樂出天倫;我現天身而為說法,令其成就。

Nhược hữu chư thiên lạc xuất thiên luân; ngã hiện thiên thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có chư-thiên muốn ra khỏi loài trời, tôi hiện ra thân chư-thiên, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若有諸龍樂出龍倫;我現龍身而為說法,令其成就。

Nhược hữu chư long lạc xuất long luân; ngã hiện long thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có các con rồng muốn ra khỏi loài rồng, tôi hiện ra thân rồng, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若有藥叉樂度本倫;我於彼前,現藥叉身而為說法,令其成就。

Nhược hữu dược-xoa lạc độ bản luân; ngã ư bỉ tiền, hiện dược-xoa thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có dược-xoa muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước họ, hiện ra thân dược-xoa, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若乾闥婆樂脫其倫;我於彼前,現乾闥婆身而為說法,令其成就。

Nhược càn-thát-bà lạc thoát kỳ luân; ngã ư bỉ tiền, hiện càn-thát-bà thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có càn-thát-bà muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước họ, hiện ra thân càn-thát-bà, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若阿修羅樂脫其倫;我於彼前,現阿修羅身而為說法,令其成就。

Nhược a tu la lạc thoát kỳ luân; ngã ư bỉ tiền, hiện a tu la thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có a-tu-la, muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước họ, hiện ra thân a-tu-la, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu. Nếu có khẩn-na-la muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước họ, hiện ra thân khẩn-na-la, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若緊陀羅樂脫其倫;我於彼前,現緊陀羅身而為說法,令其成就。

Nhược khẩn-đà-la lạc thoát kỳ luân; ngã ư bỉ tiền, hiện khẩn-đà-la thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

(đoạn này thiếu trong ebook nguồn — bản dịch gốc có, cần bổ sung từ bản in)

若摩呼羅伽樂脫其倫;我於彼前,現摩呼羅伽身而為說法,令其成就。

Nhược ma-hô-la-già lạc thoát kỳ luân; ngã ư bỉ tiền, hiện ma-hô-la-già thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có ma-hô-la-già muốn thoát khỏi loài mình; tôi ở trước họ, hiện ra thân ma-hô-la-già, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若諸眾生樂人修人;我現人身而為說法,令其成就。

Nhược chư chúng sinh lạc nhân tu nhân; ngã hiện nhân thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có chúng-sinh thích làm người, tu cho được thân người, tôi hiện ra thân người, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

若諸非人——有形無形、有想無想樂度其倫;我於彼前,皆現其身而為說法,令其成就。

Nhược chư phi nhân——hữu hình vô hình, hữu tưởng vô tưởng lạc độ kỳ luân; ngã ư bỉ tiền, giai hiện kỳ thân nhi vi thuyết pháp, lệnh kỳ thành tựu.

Nếu có loài phi-nhân, hoặc có hình, hoặc không hình, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước họ, hiện ra thân như họ, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.

是名妙淨三十二應入國土身,皆以三昧聞薰聞修無作妙力自在成就。

Thị danh diệu tịnh tam thập nhị ưng nhập quốc độ thân, giai dĩ tam-muội văn huân văn tu vô tác diệu lực tự tại thành tựu.

Ấy gọi là 32 ứng-thân diệu-tịnh, vào các cõi-nước. Những thân ấy đều do vô-tác-diệu-lực của Văn-huân Văn-tu Tam-muội, mà tự-tại thành tựu.

Chi 3. - Do bi-ngưỡng, bố-thí 14 công-đức vô-úy.

「世尊!我復以此聞薰聞修金剛三昧無作妙力,與諸十方三世六道一切眾生同悲仰故,令諸眾生於我身心獲十四種無畏功德:

“Thế-tôn! Ngã phục dĩ thử văn huân văn tu kim cương tam-muội vô tác diệu lực, dữ chư thập phương tam thế lục đạo nhất thiết chúng sinh đồng bi ngưỡng cố, lệnh chư chúng sinh ư ngã thân tâm hoạch thập tứ chủng vô úy công đức:

"Bạch Thế-tôn, do tôi lại dùng vô-tác-diệu-lực của Văn-huân Văn-tu Kim-cương-tam-muội ấy, cùng với tất-cả lục-đạo chúng-sinh trong mười phương ba đời, đồng một lòng bi-ngưỡng, nên khiến các chúng-sinh, nơi thân-tâm tôi, được 14 thứ công-đức vô-úy:

一者、由我不自觀音以觀觀者,令彼十方苦惱眾生觀其音聲即得解脫。

Nhất giả, do ngã bất tự quán âm dĩ quán quán giả, lệnh bỉ thập phương khổ não chúng sinh quán kỳ âm thanh tức đắc giải thoát.

Một, là do tôi không tự quán cái tiếng, mà quán cái tâm năng-quán, nên khiến cho chúng-sinh khổ-não thập phương kia, quán cái âm-thanh, thì liền được giải-thoát.

二者、知見旋復,令諸眾生設入大火火不能燒。

Nhị giả, tri kiến toàn phục, lệnh chư chúng sinh thiết nhập đại hỏa hỏa bất năng thiêu.

Hai, là tri-kiến đã xoay trở lại, khiến cho các chúng-sinh, dầu vào đống lửa, lửa không thể đốt được.

三者、觀聽旋復,令諸眾生大水所漂水不能溺。

Tam giả, quán thính toàn phục, lệnh chư chúng sinh đại thủy sở phiêu thủy bất năng nịch.

Ba, là quán cái nghe đã xoay trở lại, khiến cho các chúng-sinh bị nước lớn cuốn đi, mà không chết-đuối.

四者、斷滅妄想心無殺害,令諸眾生入諸鬼國鬼不能害。

Tứ giả, đoạn diệt vọng tưởng tâm vô sát hại, lệnh chư chúng sinh nhập chư quỷ quốc quỷ bất năng hại.

Bốn, là diệt hết vọng-tưởng, tâm không sát-hại, khiến các chúng-sinh vào những nước quỷ, quỷ không thể hại được.

五者、薰聞成聞,六根銷復同於聲聽,能令眾生臨當被害刀段段壞,使其兵戈猶如割水,亦如吹光,性無搖動。六者、聞薰精明明遍法界,則諸幽暗性不能全,能令眾生藥叉、羅剎、鳩槃茶鬼及毘舍遮、富單那等,雖近其傍目不能視。

Ngũ giả, huân văn thành văn, lục căn tiêu phục đồng ư thanh thính, năng lệnh chúng sinh lâm đương bị hại đao đoạn đoạn hoại, sử kỳ binh qua do như cắt thủy, diệc như xuy quang, tính vô dao động. Lục giả, văn huân tinh minh minh biến pháp giới, tắc chư u ám tính bất năng toàn, năng lệnh chúng sinh dược-xoa, la-sát, cưu-bàn-trà quỷ cập tỳ-xá-già, phú-đan-na đẳng, tuy cận kỳ bàng mục bất năng thị.

Năm, là huân-tập và thành-tựu được tính-nghe, cả sáu căn đều tiêu về bản-tính, đồng như cái nghe, cái tiếng, có thể khiến cho chúng-sinh, lúc đương bị hại, dao gãy từng đoạn, khiến cho các binh-khí chạm vào thân người như cắt dòng nước, như thổi ánh-sáng, bản-tính không hề lay-động. Sáu, là huân-tập tính-nghe sáng-suốt thấu khắp pháp-giới, thì các tính tối-tăm không thể toàn được, có thể khiến cho chúng-sinh, tuy các loài dược-xoa, la-sát, cưu-bàn-trà, tỳ-xá-già, phú-dan-na, vân vân ... ở gần một bên, con mắt chúng vẫn không thể thấy được.

七者、音性圓銷,觀聽返入離諸塵妄,能令眾生禁繫枷鎖所不能著。

Thất giả, âm tính viên tiêu, quán thính phản nhập ly chư trần vọng, năng lệnh chúng sinh cấm hệ gia tỏa sở bất năng trước.

Bảy, là các tiếng đều viên-tiêu, thấy-nghe đã xoay vào tự-tính, rời các trần-cảnh hư-vọng, có thể khiến cho các chúng-sinh, những thứ cùm, dây, gông, xiềng không thể dính vào mình được.

八者、滅音圓聞遍生慈力,能令眾生經過嶮路賊不能劫。

Bát giả, diệt âm viên văn biến sinh từ lực, năng lệnh chúng sinh kinh quá hiểm lộ tặc bất năng kiếp.

Tám, là diệt tướng âm-thanh, viên-thông tính-nghe, phát-sinh từ-lực cùng khắp, có thể khiến cho chúng-sinh đi qua đường hiểm, giặc không cướp được.

九者、薰聞離塵色所不劫,能令一切多婬眾生遠離貪欲。

Cửu giả, huân văn ly trần sắc sở bất kiếp, năng lệnh nhất thiết đa dâm chúng sinh viễn ly tham dục.

Chín, là huân-tập phát ra tính-nghe, rời các trần-tướng, sắc-dục không lôi-kéo được, có thể khiến cho tất-cả chúng-sinh đa-dâm, xa rời lòng tham-dục.

十者、純音無塵,根境圓融無對所對,能令一切忿恨眾生離諸嗔恚。

Thập giả, thuần âm vô trần, căn cảnh viên dung vô đối sở đối, năng lệnh nhất thiết phẫn hận chúng sinh ly chư sân huệ.

Mười, là thuần một thật-tướng của âm-thanh, không còn gì là tiền-trần, căn và cảnh điều viên-dung, không có năng, sở đối-đãi, có thể khiến cho tất-cả chúng-sinh nóng-giận, rời-bỏ lòng thù-ghét.

十一者、銷塵旋明,法界身心猶如瑠璃朗徹無礙,能令一切昏鈍性障諸阿顛迦,永離癡暗。

Thập nhất giả, tiêu trần toàn minh, pháp giới thân tâm do như lưu-ly lãng triệt vô ngại, năng lệnh nhất thiết hôn độn tính chướng chư a-điên-ca, vĩnh ly si ám.

Mười một, là tiêu-diệt trần-tướng, xoay về tính bản-minh, thì pháp-giới, thân, tâm đều như ngọc lưu-ly, sáng-suốt không ngăn-ngại, có thể khiến cho những kẻ ngu-ngốc u-mê, xa-rời hẳn sự si-mê tối-tăm.

十二者、融形復聞,不動道場涉入世間不壞世界,能遍十方供養微塵諸佛如來,各各佛邊為法王子;能令法界無子眾生欲求男者,誕生福德智慧之男。

Thập nhị giả, dung hình phục văn, bất động đạo tràng thiệp nhập thế gian bất hoại thế giới, năng biến thập phương cúng dường vi trần chư Phật Như-lai, các các Phật biên vi pháp vương tử; năng lệnh pháp giới vô tử chúng sinh dục cầu nam giả, đản sinh phúc đức trí tuệ chi nam.

Mười hai, là viên-dung các hình-tướng, xoay tính-nghe trở về đạo-trường bất-động, hòa vào thế-gian mà không hủy-hoại thế-giới, cúng-dường được chư Phật Như-lai như số vi-trần, cùng khắp mười phương, ở bên mỗi mỗi đức Phật, làm vị Pháp-vương-tử, có thể khiến cho trong pháp-giới, những chúng-sinh không con, cầu có con trai, sinh ra đứa con trai có phúc-đức trí-tuệ.

十三者、六根圓通明照無二,含十方界,立大圓鏡空如來藏,承順十方微塵如來祕密法門受領無失;能令法界無子眾生欲求女者,誕生端正福德柔順眾人愛敬有相之女。

Thập tam giả, lục căn viên thông minh chiếu vô nhị, hàm thập phương giới, lập đại viên kính không Như-lai tàng, thừa thuận thập phương vi trần Như-lai bí mật pháp môn thọ lãnh vô thất; năng lệnh pháp giới vô tử chúng sinh dục cầu nữ giả, đản sinh đoan chính phúc đức nhu thuận chúng nhân ái kính hữu tướng chi nữ.

Mười ba, là sáu căn viên-thông, soi-sáng không hai, trùm khắp thập phương thế-giới, thành-lập đại-viên-kính Không-như-lai-tạng, vâng-lĩnh pháp-môn bí-mật của thập-phương vi-trần Như-lai, không có thiếu-sót, có thể khiến cho trong pháp-giới, những chúng-sinh không con, cầu có con gái, sinh ra người con gái có tướng-tốt, đoan-chính, phúc-đức, dịu-dàng, được mọi người yêu-kính.

十四者、此三千大千世界百億日月,現住世間諸法王子有六十二恒河沙數,修法垂範教化眾生,隨順眾生方便智慧各各不同。由我所得圓通本根發妙耳門,然後身心微妙含容遍周法界,能令眾生持我名號,與彼共持六十二恒河沙諸法王子,二人福德正等無異。

Thập tứ giả, thử tam thiên đại thiên thế giới bách ức nhật nguyệt, hiện trụ thế gian chư pháp vương tử hữu lục thập nhị hằng hà sa số, tu pháp thùy phạm giáo hóa chúng sinh, tùy thuận chúng sinh phương tiện trí tuệ các các bất đồng. Do ngã sở đắc viên thông bản căn phát diệu nhĩ môn, nhiên hậu thân tâm vi diệu hàm dung biến chu pháp giới, năng lệnh chúng sinh trì ngã danh hiệu, dữ bỉ cộng trì lục thập nhị hằng hà sa chư pháp vương tử, nhị nhân phúc đức chính đẳng vô dị.

Mười bốn, là trong tam-thiên đại-thiên thế-giới này, có trăm ức mặt trời, mặt trăng, các Pháp-vương-tử hiện ở trong thế-gian, số-lượng có đến 62 số cát sông Hằng, đều tu Phật-pháp, nêu gương-mẫu, giáo-hóa chúng-sinh, tùy-thuận chúng-sinh, phương-tiện trí-tuệ của mỗi mỗi vị không đồng nhau. Do tôi được tính viên-thông, phát ra diệu-tính của nhĩ-căn, cho đến thân-tâm nhiệm-mầu bao trùm khắp pháp-giới, nên có thể khiến cho chúng-sinh chấp-trì danh-hiệu của tôi, so với những người chấp-trì danh-hiệu của tất-cả các vị Pháp-vương-tử số-lượng bằng 62 số cát sông Hằng kia, phúc-đức hai bên thật bằng bậc, không sai khác.

世尊!我一名號與彼眾多名號無異,由我修習得真圓通。是名十四施無畏力,福備眾生。

Thế-tôn! Ngã nhất danh hiệu dữ bỉ chúng đa danh hiệu vô dị, do ngã tu tập đắc chân viên thông. Thị danh thập tứ thi vô úy lực, phúc bị chúng sinh.

Bạch Thế-tôn, một danh-hiệu của tôi cùng với rất nhiều danh-hiệu kia không khác, là do tôi tu-tập được tính viên-thông chân-thật. Ấy gọi là 14 sức thí-vô-úy, đem phúc khắp cho chúng-sinh.

Chi 4. - Theo cơ-cảm hiện ra 4 diệu-đức không nghĩ-bàn.

「世尊!我又獲是圓通,修證無上道故,又能善獲四不思議無作妙德:

“Thế-tôn! Ngã hựu hoạch thị viên thông, tu chứng vô thượng đạo cố, hựu năng thiện hoạch tứ bất tư nghị vô tác diệu đức:

"Bạch Thế-tôn, do tôi đã được Đạo tu-chứng viên-thông vô-thượng đó, nên lại khéo được 4 vô-tác-diệu-đức không nghĩ-bàn:

一者、由我初獲妙妙聞心,心精遺聞,見、聞、覺、知不能分隔,成一圓融清淨寶覺。故我能現眾多妙容,能說無邊祕密神呪。其中或現一首、三首、五首、七首、九首、十一首,如是乃至一百八首,千首、萬首、八萬四千爍迦囉首。二臂、四臂、六臂、八臂、十臂、十二臂、十四、十六、十八、二十、至二十四,如是乃至一百八臂,千臂、萬臂、八萬四千母陀羅臂。二目、三目、四目、九目、如是乃至一百八目,千目、萬目、八萬四千清淨寶目。或慈、或威、或定、或慧;救護眾生得大自在。

Nhất giả, do ngã sơ hoạch diệu diệu văn tâm, tâm tinh di văn, kiến, văn, giác, tri bất năng phân cách, thành nhất viên dung thanh tịnh bảo giác. Cố ngã năng hiện chúng đa diệu dung, năng thuyết vô biên bí mật thần chú. Kỳ trung hoặc hiện nhất thủ, tam thủ, ngũ thủ, thất thủ, cửu thủ, thập nhất thủ, như thị nãi chí nhất bách bát thủ, thiên thủ, vạn thủ, bát vạn tứ thiên thước-ca-la thủ. Nhị tý, tứ tý, lục tý, bát tý, thập tý, thập nhị tý, thập tứ, thập lục, thập bát, nhị thập, chí nhị thập tứ, như thị nãi chí nhất bách bát tý, thiên tý, vạn tý, bát vạn tứ thiên mẫu-đà-la tý. Nhị mục, tam mục, tứ mục, cửu mục, như thị nãi chí nhất bách bát mục, thiên mục, vạn mục, bát vạn tứ thiên thanh tịnh bảo mục. Hoặc từ, hoặc uy, hoặc định, hoặc tuệ; cứu hộ chúng sinh đắc đại tự tại.

Một, là do tôi chứng được tính-nghe chí-diệu, nơi tâm-tính không còn có tướng năng-văn, các sự thấy, nghe, hay, biết không còn cách-biệt và đều thành một bảo-giác viên-dung thanh-tịnh, nên tôi có thể hiện ra rất nhiều hình-dung nhiệm-mầu, nói ra vô-số thần-chú bí-mật. Trong đó, hoặc hiện ra một đầu, 3 đầu, 5 đầu, 7 đầu, 9 đầu, 11 đầu, như thế cho đến 108 đầu, 1000 đầu, 10000 đầu, 84000 cái đầu, đầy-đủ các tướng; hoặc hiện ra hai tay, 4 tay, 6 tay, 12 tay, 14, 16, 18, 20, 24, như thế cho đến 108 tay, 1000 tay, 10000 tay, 84000 cái tay bắt-ấn; hoặc hiện ra hai mắt, 3 mắt, 4 mắt, 9 mắt, như thế cho đến 108 mắt, 1000 mắt, 10000 mắt, 84000 con mắt báu thanh-tịnh; hoặc khi thì từ, hoặc khi thì oai, hoặc khi thì định, hoặc khi thì tuệ, cứu-giúp chúng-sinh được rất tự-tại.

二者、由我聞思脫出六塵,如聲度垣不能為礙。故我妙能現一一形、誦一一呪,其形、其呪能以無畏施諸眾生。是故十方微塵國土,皆名我為施無畏者。

Nhị giả, do ngã văn tư thoát xuất lục trần, như thanh độ viên bất năng vi ngại. Cố ngã diệu năng hiện nhất nhất hình, tụng nhất nhất chú, kỳ hình, kỳ chú năng dĩ vô úy thi chư chúng sinh. Thị cố thập phương vi trần quốc độ, giai danh ngã vi thi vô úy giả.

Hai, là do cái nghe, cái nghĩ của tôi, thoát ra ngoài sáu trần như cái tiếng qua bức tường, không thể bị ngăn-ngại, cho nên diệu-dụng của tôi có thể hiện mỗi mỗi hình, tụng mỗi mỗi chú, hình đó, chú đó đều có thể đem sức vô-úy mà bố-thí cho các chúng-sinh; vì thế, cõi nước thập phương như vi-trần đều gọi tôi là vị Thí-vô-úy.

三者、由我修習本妙圓通清淨本根,所遊世界皆令眾生捨身珍寶求我哀愍。

Tam giả, do ngã tu tập bản diệu viên thông thanh tịnh bản căn, sở du thế giới giai lệnh chúng sinh xả thân trân bảo cầu ngã ai mẫn.

Ba, là tôi tu-tập, phát ra căn-tính bản-diệu viên-thông thanh-tịnh, nên đi qua thế-giới nào, đều khiến cho chúng-sinh xả-thân, xả đồ trân-bảo, cầu tôi thương-xót.

四者、我得佛心證於究竟,能以珍寶種種供養十方如來,傍及法界六道眾生:求妻得妻,求子得子,求三昧得三昧,求長壽得長壽,如是乃至求大涅槃得大涅槃。

Tứ giả, ngã đắc Phật tâm chứng ư cứu cánh, năng dĩ trân bảo chủng chủng cúng dường thập phương Như-lai, bàng cập pháp giới lục đạo chúng sinh: Cầu thê đắc thê, cầu tử đắc tử, cầu tam-muội đắc tam-muội, cầu trưởng thọ đắc trưởng thọ, như thị nãi chí cầu đại Niết-bàn đắc đại Niết-bàn.

Bốn, là do tôi được tâm Phật, chứng đến chỗ rốt-ráo, nên có thể đem các thứ quý-báu cúng-dường thập phương Như-lai, cả đến chúng-sinh lục-đạo trong pháp-giới, ai cầu vợ thì được vợ, cầu con thì được con, cầu Tam-muội thì được Tam-muội, cầu sống lâu thì được sống lâu, như thế, cho đến cầu Đại-niết-bàn thì được Đại-niết-bàn.

Chi 5. - Kết-luận về viên-thông nhĩ-căn.

「佛問圓通,我從耳門圓照三昧緣心自在,因入流相得三摩提,成就菩提,斯為第一。世尊!彼佛如來歎我善得圓通法門,於大會中授記我為觀世音號。由我觀聽十方圓明,故觀音名遍十方界。」

“Phật vấn viên thông, ngã tùng nhĩ môn viên chiếu tam-muội duyên tâm tự tại, nhân nhập lưu tướng đắc tam-ma-đề, thành tựu Bồ-đề, tư vi đệ nhất. Thế-tôn! Bỉ Phật Như-lai thán ngã thiện đắc viên thông pháp môn, ư đại hội trung thụ ký ngã vi quán thế âm hiệu. Do ngã quán thính thập phương viên minh, cố quán âm danh biến thập phương giới.”

"Phật hỏi về viên-thông, tôi do văn-chiếu Tam-muội nơi nhĩ-căn mà duyên-tâm được tự-tại; nhân tướng nhập-lưu, được Tam-ma-đề, thành tựu quả Bồ-đề, đó là thứ nhất. Bạch Thế-tôn, đức Phật Như-lai kia, khen tôi khéo được pháp-môn viên-thông, ở trong Đại-hội, thụ-ký cho tôi cái hiệu là Quan-thế-âm; do tôi thấy-nghe thấu-suốt mười phương, nên danh-tiếng Quan-âm cùng khắp thập phương thế-giới".

MỤC V - CHỈ-ĐÍCH PHÉP VIÊN-TU

ĐOẠN I - PHÓNG HÀO-QUANG, HIỆN ĐIỀM-LÀNH

爾時,世尊於師子座,從其五體同放寶光,遠灌十方微塵如來及法王子諸菩薩頂。彼諸如來亦於五體同放寶光,從微塵方來灌佛頂,并灌會中諸大菩薩及阿羅漢。林木池沼皆演法音,交光相羅,如寶絲網。是諸大眾得未曾有,一切普獲金剛三昧。即時天雨百寶蓮華,青黃赤白間錯紛糅,十方虛空成七寶色。此娑婆界,大地山河俱時不現,唯見十方微塵國土合成一界,梵唄詠歌自然敷奏。

Nhĩ thời, Thế-tôn ư sư tử tòa, tùng kỳ ngũ thể đồng phóng bảo quang, viễn quán thập phương vi trần Như-lai cập pháp vương tử chư Bồ-tát đỉnh. Bỉ chư Như-lai diệc ư ngũ thể đồng phóng bảo quang, tùng vi trần phương lai quán Phật đỉnh, tinh quán hội trung chư đại Bồ-tát cập A-la-hán. Lâm mộc trì chiểu giai diễn pháp âm, giao quang tướng la, như bảo tơ võng. Thị chư đại chúng đắc vị tằng hữu, nhất thiết phổ hoạch kim cương tam-muội. Tức thời thiên vũ bách bảo liên hoa, thanh hoàng xích bạch gian thác phân nhữu, thập phương hư không thành thất bảo sắc. Thử Ta-bà giới, đại địa sơn hà câu thời bất hiện, duy kiến thập phương vi trần quốc độ hợp thành nhất giới, phạn bái vịnh ca tự nhiên phu tấu.

Khi bấy giờ, đức Thế-tôn nơi sư-tử tọa, năm vóc đồng phóng ra hào-quang báu, rọi xa trên đỉnh thập phương Như-lai số như vi-trần và trên đỉnh các vị Pháp-vương-tử, các vị Bồ-tát. Các đức Như-lai kia, năm vóc cũng đồng phóng ra hào-quang báu, từ các thế-giới số như vi-trần đến rọi trên đỉnh Phật và trên đỉnh các vị Đại-bồ-tát và A-la-hán trong Hội; rừng cây, ao hồ đều diễn ra pháp-âm; hào-quang giao-xen cùng nhau như lưới tơ báu. Cả trong đại-chúng được cái chưa từng có; tất-cả đều được Kim-cương-tam-muội. Liền khi ấy, trời mưa hoa sen bách-bảo màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng xen-lộn lẫn nhau, thập phương hư-không hóa-thành sắc thất-bảo. Đất liền, núi sông của cõi Sa-bà nầy cùng một lúc không hiện ra, chỉ thấy vi-trần quốc-độ thập-phương hợp-thành một giới, tiếng hát ca-ngợi tự-nhiên nổi lên.

ĐOẠN II - PHẬT BẢO NGÀI VĂN-THÙ LỰA-CHỌN CĂN VIÊN-THÔNG

於是如來告文殊師利法王子:「汝今觀此二十五無學諸大菩薩及阿羅漢,各說最初成道方便,皆言修習真實圓通;彼等修行,實無優劣、前後差別。我今欲令阿難開悟,二十五行誰當其根?兼我滅後,此界眾生入菩薩乘求無上道,何方便門得易成就?」

Ư thị Như-lai cáo Văn-thù-sư-lợi pháp vương tử: “Nhữ kim quán thử nhị thập ngũ vô học chư đại Bồ-tát cập A-la-hán, các thuyết tối sơ thành đạo phương tiện, giai ngôn tu tập chân thực viên thông; bỉ đẳng tu hành, thực vô ưu liệt, tiền hậu sai biệt. Ngã kim dục lệnh A-nan khai ngộ, nhị thập ngũ hành thùy đương kỳ căn? Kiêm ngã diệt hậu, thử giới chúng sinh nhập Bồ-tát thừa cầu vô thượng đạo, hà phương tiện môn đắc dịch thành tựu?”

Khi bấy-giờ, đức Như-lai bảo Ngài Văn-thù-sư-lỵ Pháp-vương-tử rằng: "Ông hãy xét trong 25 vị vô-học Đại-bồ-tát và A-la-hán, mỗi mỗi đều trình-bày phương-tiện hành-đạo lúc đầu, đều nói tu-tập tính viên-thông chân-thật; chỗ tu-hành của các vị kia, thật không có hơn, kém, trước, sau gì khác nhau. Nay tôi muốn khiến cho ông A-nan khai-ngộ, thì trong 25 phép tu, phép nào hợp với căn-cơ của ông ấy; lại, sau khi tôi diệt-độ rồi, chúng-sinh trong cõi nầy vào thừa Bồ-tát, cầu đạo vô-thượng, thì do pháp-môn phương-tiện gì, được dễ thành-tựu hơn?"

ĐOẠN III - LỰA RA NHỮNG CĂN KHÔNG PHẢI VIÊN

Chi I. - Tán-thán tính-giác vốn diệu và chỉ rõ mê-vọng vốn không.

文殊師利法王子奉佛慈旨,即從座起,頂禮佛足,承佛威神,說偈對佛:

Văn-thù-sư-lợi pháp vương tử phụng Phật từ chỉ, tức tùng tòa khởi, đỉnh lễ Phật túc, thừa Phật uy thần, thuyết kệ đối Phật:

Ngài Văn-thù-sư-lỵ Pháp-vương-tử, vâng từ-chỉ của Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh-lễ nơi chân Phật, dựa vào uy-thần của Phật, nói bài kệ đáp lại:

「覺海性澄圓,圓澄覺元妙;元明照生所,所立照性亡。迷妄有虛空,依空立世界。想澄成國土,知覺乃眾生。空生大覺中,如海一漚發;有漏微塵國,皆從空所生。漚滅空本無,況復諸三有?

“Giác hải tính trừng viên, viên trừng giác nguyên diệu; nguyên minh chiếu sinh sở, sở lập chiếu tính vong. Mê vọng hữu hư không, y không lập thế giới. Tưởng trừng thành quốc độ, tri giác nãi chúng sinh. Không sinh đại giác trung, như hải nhất âu phát; hữu lậu vi trần quốc, giai tùng không sở sinh. Âu diệt không bản vô, huống phục chư tam hữu?

"Bản-tính biển Giác khắp đứng-lặng, Tính khắp đứng-lặng vốn nhiệm-mầu, Bản-minh chiếu ra hình-như sở, Lập tướng sở, bỏ mất bản-minh. Do mê-vọng, mà có hư-không, Nương hư-không, lập-thành thế-giới; Tư-tưởng chăm-chú thành cõi-nước, Hay-biết mọi việc, là chúng-sinh. Hư-không sinh ra trong đại-giác, Như một bọt-nước sinh trong bể; Các nước hữu-lậu, như vi-trần Đều nương hư-không, mà phát-sinh; Bọt-nước diệt, vốn không hư-không, Huống nữa là, hình-tướng ba cõi.

Chi 2. - Nêu rõ phương-tiện có mau chậm

歸元性無二,方便有多門。聖性無不通,順逆皆方便;初心入三昧,遲速不同倫:

Quy nguyên tính vô nhị, phương tiện hữu đa môn. Thánh tính vô bất thông, thuận nghịch giai phương tiện; sơ tâm nhập tam-muội, trì tốc bất đồng luân:

"Bản-tính xoay về, vốn không hai, Phương-tiện tu-chứng có nhiều cách, Cách nào cũng thông vào bản-tính, Nói thuận, nghịch, chỉ là phương-tiện; Do hàng sơ-tâm vào Tam-muội, Bên mau, bên chậm không đồng nhau.

Chi 3. - Lựa ra 6 trần

色想結成塵,精了不能徹,如何不明徹,於是獲圓通?音聲雜語言,但伊名句味,一非含一切,云何獲圓通?香以合中知,離則元無有,不恒其所覺,云何獲圓通?味性非本然,要以味時有,其覺不恒一,云何獲圓通?觸以所觸明,無所不明觸,合離性非定,云何獲圓通?法稱為內塵:憑塵必有所,能所非遍涉,云何獲圓通?

Sắc tưởng kết thành trần, tinh liễu bất năng triệt, như hà bất minh triệt, ư thị hoạch viên thông? Âm thanh tạp ngữ ngôn, đãn y danh cú vị, nhất phi hàm nhất thiết, vân hà hoạch viên thông? Hương dĩ hợp trung tri, ly tắc nguyên vô hữu, bất hằng kỳ sở giác, vân hà hoạch viên thông? Vị tính phi bản nhiên, yếu dĩ vị thời hữu, kỳ giác bất hằng nhất, vân hà hoạch viên thông? Xúc dĩ sở xúc minh, vô sở bất minh xúc, hợp ly tính phi định, vân hà hoạch viên thông? Pháp xưng vi nội trần: Bằng trần tất hữu sở, năng sở phi biến thiệp, vân hà hoạch viên thông?

"Vọng-tưởng kết-lại thành sắc-trần, Hay-biết không thể thông-suốt được; Làm sao, chính chỗ không thông-suốt, Tu-hành, lại được tính viên-thông? Âm-thanh xen-lộn với lời nói, Chỉ nương theo ý-vị danh-từ; Nếu một, không trùm được tất-cả, Thì làm sao, được tính viên-thông? Hương, chỉ lúc hợp, mới rõ-biết, Lúc rời-cách, thì vốn không có; Nếu sở-giác, không được thường-xuyên, Thì làm sao, được tính viên-thông? Vị, không phải bản-nhiên tự có, Cần phải nếm, mới biết có vị; Nếu giác-quan, không thường duy-nhất, Thì làm sao, được tính viên-thông? Xúc, do các vật chạm mà biết, Không vật chạm, thì không thành xúc; Khi hợp, khi ly, không nhất-định, Thì làm sao, được tính viên-thông? Pháp, cũng có tên là nội-trần, Nương theo trần, tất phải có sở; Năng sở, không viên-dung nhập một, Thì làm sao, được tính viên-thông?

Chi 4. - Lựa-ra 5 căn

見性雖洞然,明前不明後,四維虧一半,云何獲圓通?鼻息出入通,現前無交氣,支離匪涉入,云何獲圓通?舌非入無端,因味生覺了,味亡了無有,云何獲圓通?身與所觸同,各非圓覺觀,涯量不冥會,云何獲圓通?知根雜亂思,湛了終無見,想念不可脫,云何獲圓通?

Kiến tính tuy động nhiên, minh tiền bất minh hậu, tứ duy khuy nhất bán, vân hà hoạch viên thông? Tỵ tức xuất nhập thông, hiện tiền vô giao khí, chi ly phỉ thiệp nhập, vân hà hoạch viên thông? Thiệt phi nhập vô đoan, nhân vị sinh giác liễu, vị vong liễu vô hữu, vân hà hoạch viên thông? Thân dữ sở xúc đồng, các phi viên giác quán, nhai lượng bất minh hội, vân hà hoạch viên thông? Tri căn tạp loạn tư, trạm liễu chung vô kiến, tưởng niệm bất khả thoát, vân hà hoạch viên thông?

"Cái thấy, tuy rỗng-suốt rất xa, Nhưng thấy trước, mà không thấy sau; Bốn-bề, còn thiếu mất một nửa, Thì làm sao, được tính viên-thông! Mũi, có thở ra và thở vào, Chặng giữa, hiện không có hơi-thở, Nếu không viên-dung sự cách-bức, Thì làm sao, được tính viên-thông? Ngoài sở-nhập, tính-nếm không thành, Nhân các vị, mới có hay-biết; Không có vị, rốt-ráo không có, Thì làm sao, được tính viên-thông? Thân biết-xúc với cảnh sở-xúc, Đều có hạn, không phải cùng khắp; Nếu không nhận tính không bờ-bến, Thì làm sao, được tính viên-thông? Ý-căn xen với các loạn-tưởng, Đứng-lặng, rốt-cuộc không thấy gì; Nếu không thoát được các tưởng-niệm, Thì làm sao, được tính viên-thông?"

Chi 5. - Lựa-ra 6 thức.

識見雜三和,詰本稱非相,自體先無定,云何獲圓通?心聞洞十方,生于大因力,初心不能入,云何獲圓通?鼻想本權機,秖令攝心住,住成心所住,云何獲圓通?說法弄音文,開悟先成者,名句非無漏,云何獲圓通?持犯但束身,非身無所束,元非遍一切,云何獲圓通?神通本宿因,何關法分別,念緣非離物,云何獲圓通?

Thức kiến tạp tam hòa, cật bản xưng phi tướng, tự thể tiên vô định, vân hà hoạch viên thông? Tâm văn động thập phương, sinh vu đại nhân lực, sơ tâm bất năng nhập, vân hà hoạch viên thông? Tỵ tưởng bản quyền cơ, chỉ lệnh nhiếp tâm trụ, trụ thành tâm sở trụ, vân hà hoạch viên thông? Thuyết pháp lộng âm văn, khai ngộ tiên thành giả, danh cú phi vô lậu, vân hà hoạch viên thông? Trì phạm đãn thúc thân, phi thân vô sở thúc, nguyên phi biến nhất thiết, vân hà hoạch viên thông? Thần thông bản túc nhân, hà quan pháp phân biệt, niệm duyên phi ly vật, vân hà hoạch viên thông?

"Nhãn-thức, phát-khởi nhờ căn trần, Gạn-cùng, vốn không có tự-tướng; Cả tự-thể, còn không nhất-định, Thì làm sao, được tính viên-thông? Tâm nghe rỗng-thấu cả mười phương, Là do sức hoằng-thệ rộng-lớn; Sơ-tâm, không thể đến chỗ ấy Thì làm sao, được tính viên-thông? Quán đầu-mũi, vốn là duyên-cơ, Chỉ để nhiếp-tâm được an-trụ; Nếu cảnh-quán, lại thành sở-trụ, Thì làm sao, được tính viên-thông? Thuyết-pháp, diệu-dụng các danh-từ; Cốt phải đã được khai-ngộ trước; Nếu lời nói, không phải vô-lậu, Thì làm sao, được tính viên-thông? Giữ giới, chỉ câu-thúc cái thân, Ngoài cái thân, lấy gì câu-thúc; Vốn không phải cùng khắp tất-cả, Thì làm sao, được tính viên-thông? Thần-thông, do túc-tập từ trước, Nào dính gì ý-thức phân-biệt; Tưởng-niệm, không thoát-ly sự-vật, Thì làm sao, được tính viên-thông?

Chi 6. - Lựa-ra 7 đại

若以地性觀,堅礙非通達,有為非聖性,云何獲圓通?若以水性觀,想念非真實,如如非覺觀,云何獲圓通?若以火性觀,厭有非真離,非初心方便,云何獲圓通?若以風性觀,動寂非無對,對非無上覺,云何獲圓通?若以空性觀。昏鈍先非覺,無覺異菩提,云何獲圓通?若以識性觀,觀識非常住,存心乃虛妄,云何獲圓通?諸行是無常,念性元生滅,因果今殊感,云何獲圓通?

Nhược dĩ địa tính quán, kiên ngại phi thông đạt, hữu vi phi thánh tính, vân hà hoạch viên thông? Nhược dĩ thủy tính quán, tưởng niệm phi chân thực, như như phi giác quán, vân hà hoạch viên thông? Nhược dĩ hỏa tính quán, yếm hữu phi chân ly, phi sơ tâm phương tiện, vân hà hoạch viên thông? Nhược dĩ phong tính quán, động tịch phi vô đối, đối phi vô thượng giác, vân hà hoạch viên thông? Nhược dĩ không tính quán. Hôn độn tiên phi giác, vô giác dị Bồ-đề, vân hà hoạch viên thông? Nhược dĩ thức tính quán, quán thức phi thường trụ, tồn tâm nãi hư vọng, vân hà hoạch viên thông? Chư hành thị vô thường, niệm tính nguyên sinh diệt, nhân quả kim thù cảm, vân hà hoạch viên thông?

"Nếu quán cái tính của địa-đại, Thì nó ngăn-ngại, không thông-suốt; Pháp hữu-vi, không phải chân-tính, Thì làm sao, được tính viên-thông? Nếu quán cái tính của thủy-đại, Quán-tưởng, đâu phải là chân-thật, Nếu không đi đến Diệu-chân-như, Thì làm sao, được tính viên-thông? Nếu quán hỏa-đại, trừ dâm-dục, Chán cái có, không phải thật ly; Phương-tiện, không hợp với sơ-tâm, Thì làm sao, được tính viên-thông? Nếu quán cái tính của phong-đại, Động, tĩnh, đâu phải không đối-đãi; Đối-đãi, trái với vô-thượng-giác, Thì làm sao, được tính viên-thông? Nếu quán cái tính của không-đại, Hư-không vô-tri, không hay-biết; Không biết, khác hẳn với Bồ-đề, Thì làm sao, được tính viên-thông? Nếu quán cái tính của thức-đại, Thức sinh-diệt, đâu phải thường-trụ, Để tâm trong phân-biệt hư-vọng, Thì làm sao, được tính viên-thông? Tất-cả các hành đều vô-thường, Tưởng-niệm, vốn trong vòng sinh diệt, Nhân và quả, khác nhau như thế, Thì làm sao, được tính viên-thông?"

ĐOẠN IV - CHỌN-LẤY CÁI CĂN VIÊN-THÔNG

Chi I. - Hợp với giáo-thể cõi Sa-bà

我今白世尊:佛出娑婆界,此方真教體,清淨在音聞;欲取三摩提,實以聞中入。

Ngã kim bạch Thế-tôn: Phật xuất Ta-bà giới, thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn; dục thủ tam-ma-đề, thực dĩ văn trung nhập.

"Tôi nay xin bạch đức Thế-tôn, Phật ra đời trong cõi Sa-bà, Trong cõi nầy, lối dạy chân-thật, Thanh-tịnh, do chỗ nói và nghe; Nay muốn tu-chứngTam-ma-đề, Thật nên do cái nghe mà vào."

Chi 2. - Xưng-tán ngài Quán-thế-âm

離苦得解脫,良哉觀世音!於恒沙劫中,入微塵佛國,得大自在力,無畏施眾生。妙音、觀世音、梵音、海潮音,救世悉安寧,出世獲常住。

Ly khổ đắc giải thoát, lương tai quán thế âm! Ư hằng sa kiếp trung, nhập vi trần Phật quốc, đắc đại tự tại lực, vô úy thi chúng sinh. Diệu âm, quán thế âm, phạn âm, hải triều âm, cứu thế tất an ninh, xuất thế hoạch thường trụ.

"Rời cái khổ và được giải-thoát, Hay thay cho ngài Quán-thế-âm; Trong kiếp số như cát sông Hằng, Vào cõi Phật như số vi-trần, Được sức tự-tại rất to-lớn, Bố-thí vô-úy cho chúng-sinh. Ngài Quán-thế-âm, tiếng nhiệm-mầu, Tiếng trong-sạch và tiếng hải-trào, Cứu đời, mọi việc được yên-lành, Xuất-thế-gian, được quả thường-trụ."

Chi 3. - Xưng-tán nhĩ-căn.

我今啟如來,如觀音所說。譬如人靜居,十方俱擊皷,十處一時聞,此則圓真實。目非觀障外,口、鼻亦復然。身以合方知,心念紛無緒;隔垣聽音響,遐邇俱可聞;五根所不齊,是則通真實。音聲性動靜,聞中為有無;無聲號無聞,非實聞無性。聲無既無滅,聲有亦非生;生滅二圓離,是則常真實。縱令在夢想,不為不思無,覺觀出思惟,身心不能及。

Ngã kim khải Như-lai, như quán âm sở thuyết. Thí như nhân tĩnh cư, thập phương câu kích cổ, thập xứ nhất thời văn, thử tắc viên chân thực. Mục phi quán chướng ngoại, khẩu, tỵ diệc phục nhiên. Thân dĩ hợp phương tri, tâm niệm phân vô tự; cách viên thính âm hưởng, hà nhĩ câu khả văn; ngũ căn sở bất tề, thị tắc thông chân thực. Âm thanh tính động tĩnh, văn trung vi hữu vô; vô thanh hiệu vô văn, phi thực văn vô tính. Thanh vô ký vô diệt, thanh hữu diệc phi sinh; sinh diệt nhị viên ly, thị tắc thường chân thực. Túng lệnh tại mộng tưởng, bất vi bất tư vô, giác quán xuất tư duy, thân tâm bất năng cập.

"Tôi nay kính bạch đức Như-lai, Như lời ngài Quán-âm vừa nói: Ví-như, có người trong yên-lặng, Chung-quanh mười phương đều đánh trống, Thì đồng-thời nghe khắp mười nơi, Như thế, mới là viên-chân-thật. Mắt bị ngăn-che, không thấy được, Thiệt-căn, tỷ-căn cũng như vậy, Thân-căn, lúc hợp mới biết-xúc, Ý-căn, phân-vân không manh-mối; Cách tường, nhĩ-căn vẫn nghe tiếng, Dầu xa, dầu gần, đều nghe được; Năm căn so-sánh thật không bằng, Như thế, mới là thông-chân-thật. Tính thanh-trần, có động, có tĩnh, Trong tính-nghe thành có, thành không; Khi không tiếng, gọi là không nghe, Đâu phải thật không còn tính-nghe; Không tiếng, tính-nghe đã không diệt, Có tiếng, tính-nghe đâu phải sinh; Trọn-rời cả hai thứ sinh-diệt, Như thế, mới là thường-chân-thật. Dầu cho, trong lúc đương ngủ mê, Không vì không nghĩ, mà không nghe; Tính-nghe ra ngoài sự suy-nghĩ, Thân, ý không thể so bằng được.

Chi 4. - Chuyển mê thành ngộ

今此娑婆國,聲論得宣明,眾生迷本聞,循聲故流轉。阿難縱強記,不免落邪思,豈非隨所淪,旋流獲無妄?阿難汝諦聽:我承佛威力,宣說金剛王、如幻不思議、佛母真三昧。汝聞微塵佛,一切祕密門,欲漏不先除,畜聞成過誤。將聞持佛佛,何不自聞聞?聞非自然生,因聲有名字。旋聞與聲脫,能脫欲誰名?一根既返源,六根成解脫。見、聞如幻翳,三界若空花。聞復翳根除,塵銷覺圓淨;淨極光通達,寂照含虛空。却來觀世間,猶如夢中事。摩登伽在夢,誰能留汝形?如世巧幻師,幻作諸男女,雖見諸根動,要以一機抽。息機歸寂然,諸幻成無性。六根亦如是,元依一精明,分成六和合,一處成休復,六用皆不成。塵垢應念銷,成圓明淨妙,餘塵尚諸學,明極即如來。大眾及阿難!旋汝倒聞機,反聞聞自性,性成無上道,圓通實如是。

Kim thử Ta-bà quốc, thanh luận đắc tuyên minh, chúng sinh mê bản văn, tuần thanh cố lưu chuyển. A-nan túng cường ký, bất miễn lạc tà tư, khởi phi tùy sở luân, toàn lưu hoạch vô vọng? A-nan nhữ đế thính: Ngã thừa Phật uy lực, tuyên thuyết kim cương vương, như huyễn bất tư nghị, Phật mẫu chân tam-muội. Nhữ văn vi trần Phật, nhất thiết bí mật môn, dục lậu bất tiên trừ, súc văn thành quá ngộ. Tương văn trì Phật Phật, hà bất tự văn văn? Văn phi tự nhiên sinh, nhân thanh hữu danh tự. Toàn văn dữ thanh thoát, năng thoát dục thùy danh? Nhất căn ký phản nguyên, lục căn thành giải thoát. Kiến, văn như huyễn ế, tam giới nhược không hoa. Văn phục ế căn trừ, trần tiêu giác viên tịnh; tịnh cực quang thông đạt, tịch chiếu hàm hư không. Khước lai quán thế gian, do như mộng trung sự. Ma-đăng-già tại mộng, thùy năng lưu nhữ hình? Như thế xảo huyễn sư, huyễn tác chư nam nữ, tuy kiến chư căn động, yếu dĩ nhất cơ trừu. Tức cơ quy tịch nhiên, chư huyễn thành vô tính. Lục căn diệc như thị, nguyên y nhất tinh minh, phân thành lục hòa hợp, nhất xứ thành hưu phục, lục dụng giai bất thành. Trần cấu ưng niệm tiêu, thành viên minh tịnh diệu, dư trần thượng chư học, minh cực tức Như-lai. Đại chúng cập A-nan! Toàn nhữ đảo văn cơ, phản văn văn tự tính, tính thành vô thượng đạo, viên thông thực như thị.

“Hiện nay, trong cõi Sa-bà nầy, Các thứ thanh-luận được truyền-bá, Do chúng-sinh bỏ mất tính-nghe, Theo thanh-trần, nên bị lưu-chuyển; A-nan, tuy có tính nhớ dai, Vẫn không khỏi mắc các tà-niệm; Há không phải tùy chỗ chìm-đắm, Xoay ngược dòng, thoát khỏi hư-vọng. A-nan, ông hãy nghe cho chín, Nay tôi nương uy-lực của Phật, Tuyên-nói phép Tam-muội chân-thật, Chắc như Kim-cương-vương, như-huyễn, Không nghĩ-bàn, xuất-sinh chư Phật. Ông nghe tất-cả pháp bí-mật Của chư Phật, số như vi-trần, Nếu trước hết, không trừ dục-lậu, Nghe nhiều, chứa-chấp thành lầm-lỗi; Dùng cái nghe thụ-trì Phật-pháp, Sao lại không tự nghe cái nghe? Tính-nghe không phải tự-nhiên sinh, Nhân thanh-trần mà có danh-hiệu, Xoay cái nghe, thoát-ly thanh-trần, Cái thoát-ly ấy, gọi là gì? Một căn, đã trở về bản-tính, Thì cả sáu căn, được giải-thoát, Thấy, nghe như bệnh lòa huyễn-hóa, Ba cõi như hoa-đốm hư-không; Xoay tính-nghe, gốc lòa tiêu-trừ, Trần-tướng tiêu, giác-tính viên-tịnh. Tột thanh-tịnh, trí-quang thông-suốt, Thể tịch-chiếu trùm khắp hư-không, Trở lại xem các việc thế-gian Thật giống như chiêm-bao không khác. Nàng Ma-đăng-già là chiêm-bao Thì còn ai bắt ông được nữa? Như các huyễn-sư khéo trong đời, Làm trò, thành ra các trai, gái; Tuy thấy các căn đều cử-động, Cốt-yếu, do cái máy dật dây; Nghỉ máy, tất-cả đều yên-lặng, Các trò, trở thành không có tính. Cả sáu căn cũng giống như thế, Vốn đều nương một tính tinh-minh Chia ra thành sáu thứ hòa-hợp; Một nơi, đã rời-bỏ quay về, Thì cả sáu, đều không thành-lập; Trong một niệm, trần-cấu đều tiêu, Chuyển-thành tính Viên-minh tịnh-diệu, Còn sót trần-cấu là học-vị, Sáng-suốt cùng-tột, tức Như-lai. Hỡi đại-chúng và ông A-nan, Hãy xoay lại cái nghe điên-đảo, Xoay cái nghe về, nghe tự-tính, Nhận tự-tính, thành đạo vô-thượng; Thật-tính viên-thông là như thế."

Chi 5. - Chọn lấy nhĩ-căn làm phương-tiện thích-hợp.

此是微塵佛,一路涅槃門。過去諸如來,斯門已成就;現在諸菩薩,今各入圓明;未來修學人,當依如是法。我亦從中證,非唯觀世音。誠如佛世尊,詢我諸方便,以救諸末劫,求出世間人。成就涅槃心,觀世音為最。自餘諸方便,皆是佛威神。即事捨塵勞,非是長修學,淺深同說法。

Thử thị vi trần Phật, nhất lộ Niết-bàn môn. Quá khứ chư Như-lai, tư môn dĩ thành tựu; hiện tại chư Bồ-tát, kim các nhập viên minh; vị lai tu học nhân, đương y như thị pháp. Ngã diệc tùng trung chứng, phi duy quán thế âm. Thành như Phật Thế-tôn, tuân ngã chư phương tiện, dĩ cứu chư mạt kiếp, cầu xuất thế gian nhân. Thành tựu Niết-bàn tâm, quán thế âm vi tối. Tự dư chư phương tiện, giai thị Phật uy thần. Tức sự xả trần lao, phi thị trưởng tu học, thiển thâm đồng thuyết pháp.

"Đây thật là một đường thẳng tiến Vào Niết-bàn của vi-trần Phật; Các đức Như-lai trong quá-khứ Đều đã thành-tựu pháp-môn nầy; Các vị Bồ-tát trong hiện-tại Điều viên-minh vào pháp-môn ấy; Những người tu-học đời vị-lai Đều nên nương theo pháp-môn đó; Tôi cũng do pháp ấy mà chứng, Không phải chỉ ngài Quán-thế-âm. Thật như lời đức Phật Thế-tôn Đã hỏi tôi về các phương-tiện Để cứu-giúp, trong đời mạt-pháp, Những người cầu pháp xuất-thế-gian Thành-tựu được tâm-tính Niết-bàn Thì ngài Quán-âm là hơn cả. Còn tất-cả các phương-tiện khác Đều là nhờ uy-thần của Phật, Tức nơi sự, rời-bỏ trần-lao, Không phải phép tu-học thường-xuyên, Nông hay sâu cũng đồng nghe được. Chi 6. - Đỉnh-lễ cầu gia-bị.

頂禮如來藏,無漏不思議,願加被未來,於此門無惑。方便易成就,堪以教阿難,及末劫沈淪,但以此根修,圓通超餘者,真實心如是。」

Đỉnh lễ Như-lai tàng, vô lậu bất tư nghị, nguyện gia bị vị lai, ư thử môn vô hoặc. Phương tiện dịch thành tựu, kham dĩ giáo A-nan, cập mạt kiếp trầm luân, đãn dĩ thử căn tu, viên thông siêu dư giả, chân thực tâm như thị.”

"Xin đỉnh-lễ tính Như-lai-tạng, Vô-lậu, không còn sự nghĩ-bàn, Nguyện gia-bị cho đời vị-lai, Nơi pháp-môn nầy, không lầm-lẫn. Đây là phương-tiện dễ thành-tựu, Nên đem dạy cho ông A-nan Cùng những kẻ trầm-luân mạt-kiếp, Chỉ dùng nhĩ-căn mà tu-tập, Thì viên-thông chóng hơn pháp khác; Tâm-tính chân-thật là như thế."

ĐOẠN V - NGHE PHÁP ĐƯỢC CHỨNG

於是阿難及諸大眾,身心了然,得大開示,觀佛菩提及大涅槃;猶如有人,因事遠遊未得歸還,明了其家所歸道路。普會大眾,天龍八部、有學二乘、及諸一切新發心菩薩,其數凡有十恒河沙,皆得本心,遠塵離垢,獲法眼淨。性比丘尼聞說偈已,成阿羅漢。無量眾生,皆發無等等阿耨多羅三藐三菩提心。

Ư thị A-nan cập chư đại chúng, thân tâm liễu nhiên, đắc đại khai thị, quán Phật Bồ-đề cập đại Niết-bàn; do như hữu nhân, nhân sự viễn du vị đắc quy hoàn, minh liễu kỳ gia sở quy đạo lộ. Phổ hội đại chúng, thiên long bát bộ, hữu học nhị thừa, cập chư nhất thiết tân phát tâm Bồ-tát, kỳ số phàm hữu thập hằng hà sa, giai đắc bản tâm, viễn trần ly cấu, hoạch pháp nhãn tịnh. Tính tỳ-kheo ni văn thuyết kệ dĩ, thành A-la-hán. Vô lượng chúng sinh, giai phát vô đẳng đẳng a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm.

Lúc ấy, ông A-nan cùng cả đại-chúng, thân tâm tỏ-rõ, nhận được sự khai-thị to-lớn, xem quả Bồ-đề và Đại-niết-bàn của Phật, cũng như có người nhân có việc phải đi xa, chưa trở về được, song đã biết rõ con đường về nhà. Trong Pháp-hội, cả đại-chúng, thiên-long bát-bộ, hàng Nhị-thừa hữu-học và tất-cả các Bồ-tát mới phát-tâm, số-lượng bằng mười số cát sông Hằng, đều được bản-tâm xa trần-tướng, rời cấu-nhiễm, được pháp-nhãn thanh-tịnh. Bà Tính-tỷ-khưu-ni nghe nói bài kệ xong, thành quả A-la-hán; vô-lượng chúng-sinh đều phát-tâm Vô-đẳng-đẳng-vô-thượng Chính-đẳng-chính-giác.

CHƯƠNG III - RỘNG ĐỂ LẠI KHUÔN-PHÉP TU-HÀNH

MỤC I - NHÂN ÔNG A-NAN XIN CỨU-ĐỘ ĐỜI VỊ-LAI, PHẬT TÓM NÊU-RA BA NGHĨA QUYẾT-ĐỊNH

阿難整衣服,於大眾中合掌頂禮。心迹圓明,悲欣交集,欲益未來諸眾生故,稽首白佛:「大悲世尊!我今已悟成佛法門,是中修行得無疑惑,常聞如來說如是言:『自未得度先度人者,菩薩發心;自覺已圓能覺他者,如來應世。』我雖未度,願度末劫一切眾生。世尊!此諸眾生去佛漸遠,邪師說法如恒河沙,欲攝其心入三摩地,云何令其安立道場,遠諸魔事?於菩提心得無退屈?」

A-nan chỉnh y phục, ư đại chúng trung hợp chưởng đỉnh lễ. Tâm tích viên minh, bi hân giao tập, dục ích vị lai chư chúng sinh cố, khể thủ bạch Phật: “Đại bi Thế-tôn! Ngã kim dĩ ngộ thành Phật pháp môn, thị trung tu hành đắc vô nghi hoặc, thường văn Như-lai thuyết như thị ngôn: ‘Tự vị đắc độ tiên độ nhân giả, Bồ-tát phát tâm; tự giác dĩ viên năng giác tha giả, Như-lai ưng thế.’ Ngã tuy vị độ, nguyện độ mạt kiếp nhất thiết chúng sinh. Thế-tôn! Thử chư chúng sinh khứ Phật tiệm viễn, tà sư thuyết pháp như hằng hà sa, dục nhiếp kỳ tâm nhập tam-ma địa, vân hà lệnh kỳ an lập đạo tràng, viễn chư ma sự? Ư Bồ-đề tâm đắc vô thoái khuất?”

Ông A-nan sửa áo chỉnh-tề, ở trong đại-chúng, chấp tay đỉnh-lễ; tâm-tích trọn-sáng, vừa mừng vừa tủi; vì muốn lợi-ích cho các chúng-sinh vị-lai, cúi đầu bạch Phật: "Thưa đức Thế-tôn đại-bi, tôi nay đã ngộ được pháp-môn thành Phật, tu-hành trong đó, được không nghi-hoặc. Tôi thường nghe đức Như-lai dạy như thế nầy: Tự mình chưa được độ, trước đã độ người, đó là chỗ phát-tâm của các vị Bồ-tát; tự mình giác-ngộ viên-mãn, có thể giác-ngộ kẻ khác, đó là sự ứng-thế của các đức Như-lai. Tôi tuy chưa được độ, song nguyện độ tất-cả chúng-sinh trong đời mạt-pháp. Bạch Thế-tôn, các chúng-sinh đó cách Phật ngày càng xa, những tà-sư thuyết-pháp; số như cát sông Hằng; nếu muốn họ nhiếp-tâm vào Tam-ma-đề, thì nên khiến họ dựng-lập đạo-trường thế nào để rời các ma-sự, được không thoái-khuất nơi tâm Bồ-đề."

爾時,世尊於大眾中,稱讚阿難:「善哉!善哉!如汝所問安立道場,救護眾生末劫沈溺。汝今諦聽,當為汝說。」阿難、大眾,唯然奉教。

Nhĩ thời, Thế-tôn ư đại chúng trung, xưng tán A-nan: “Thiện tai! Thiện tai! Như nhữ sở vấn an lập đạo tràng, cứu hộ chúng sinh mạt kiếp trầm nịch. Nhữ kim đế thính, đương vi nhữ thuyết.” A-nan, đại chúng, duy nhiên phụng giáo.

Khi bấy giờ, đức Thế-tôn, ở trong đại-chúng, khen-ngợi ông A-nan: "Hay lắm, hay lắm, như chỗ ông hỏi về dựng-lập đạo-trường, cứu-giúp chúng-sinh chìm-đắm trong đời mạt-pháp, ông hãy nghe cho chín, tôi sẽ vì ông mà nói". Ông A-nan và cả đại-chúng kính vâng lời-dạy của Phật.

佛告阿難:「汝常聞我毘奈耶中,宣說修行三決定義,所謂攝心為戒、因戒生定、因定發慧,是則名為三無漏學。

Phật cáo A-nan: “Nhữ thường văn ngã tỳ-nại-da trung, tuyên thuyết tu hành tam quyết định nghĩa, sở vị nhiếp tâm vi giới, nhân giới sinh định, nhân định phát tuệ, thị tắc danh vi tam vô lậu học.

Phật bảo ông A-nan: "Ông thường nghe tôi, trong Tỳ-nại-gia, tuyên-nói ba nghĩa quyết-định của sự tu-hành, đó là thu-nhiếp cái tâm là giới, nhân giới mà sinh định, nhân định mà phát tuệ, thế gọi là 3 pháp Vô-lậu-học."

MỤC II - CHỈ-BÀY BỐN LỜI DẠY-BẢO RÕ-RÀNG QUYẾT-ĐỊNH

ĐOẠN I - CHỈ VỀ QUYẾT-ĐỊNH ĐOẠN LÕNG DÂM

「阿難!云何攝心我名為戒?

“A-nan! Vân hà nhiếp tâm ngã danh vi giới?

"A-nan, thế nào thu-nhiếp cái tâm thì gọi là giới?

「若諸世界六道眾生,其心不婬,則不隨其生死相續。汝修三昧本出塵勞,婬心不除,塵不可出。縱有多智,禪定現前,如不斷婬,必落魔道:上品魔王,中品魔民,下品魔女。彼等諸魔亦有徒眾,各各自謂成無上道。我滅度後,末法之中多此魔民,熾盛世間。廣行貪婬,為善知識,令諸眾生落愛見坑,失菩提路。汝教世人修三摩地,先斷心婬,是名如來先佛世尊第一決定清淨明誨。「是故阿難!若不斷婬修禪定者,如蒸沙石欲其成飯,經百千劫秖名熱沙。何以故?此非飯本,石沙成故。汝以婬身求佛妙果,縱得妙悟皆是婬根。根本成婬,輪轉三途必不能出。如來涅槃何路修證?必使婬機身心俱斷,斷性亦無;於佛菩提斯可希冀。如我此說,名為佛說;不如此說,即波旬說。

“Nhược chư thế giới lục đạo chúng sinh, kỳ tâm bất dâm, tắc bất tùy kỳ sinh tử tương tục. Nhữ tu tam-muội bản xuất trần lao, dâm tâm bất trừ, trần bất khả xuất. Túng hữu đa trí, thiền định hiện tiền, như bất đoạn dâm, tất lạc ma đạo: Thượng phẩm ma vương, trung phẩm ma dân, hạ phẩm ma nữ. Bỉ đẳng chư ma diệc hữu đồ chúng, các các tự vị thành vô thượng đạo. Ngã diệt độ hậu, mạt pháp chi trung đa thử ma dân, sí thịnh thế gian. Quảng hành tham dâm, vi thiện tri thức, lệnh chư chúng sinh lạc ái kiến khanh, thất Bồ-đề lộ. Nhữ giáo thế nhân tu tam-ma địa, tiên đoạn tâm dâm, thị danh Như-lai tiên Phật Thế-tôn đệ nhất quyết định thanh tịnh minh hối. “Thị cố A-nan! Nhược bất đoạn dâm tu thiền định giả, như chưng sa thạch dục kỳ thành phạn, kinh bách thiên kiếp chỉ danh nhiệt sa. Hà dĩ cố? Thử phi phạn bản, thạch sa thành cố. Nhữ dĩ dâm thân cầu Phật diệu quả, túng đắc diệu ngộ giai thị dâm căn. Căn bản thành dâm, luân chuyển tam đồ tất bất năng xuất. Như-lai Niết-bàn hà lộ tu chứng? Tất sử dâm cơ thân tâm câu đoạn, đoạn tính diệc vô; ư Phật Bồ-đề tư khả hy ký. Như ngã thử thuyết, danh vi Phật thuyết; bất như thử thuyết, tức ba tuần thuyết.

Nếu chúng-sinh lục-đạo các thế-giới, cái tâm không dâm, thì không đi theo dòng sinh-tử tiếp-tục. Ông tu phép Tam-muội cốt để ra khỏi trần-lao, nếu không trừ lòng dâm, thì không thể ra khỏi trần-lao được. Dầu có nhiều trí thiền-định hiện-tiền, nếu không đoạn lòng dâm, cũng chắc lạc vào ma-đạo, hạng trên thành ma-vương, hạng giữa thành ma-dân, hạng dưới thành ma-nữ; các bọn ma kia cũng có đồ-chúng, mỗi mỗi tự xưng là thành đạo vô-thượng. Sau khi tôi diệt-độ rồi, trong đời mạt-pháp, có nhiều bọn ma nầy sôi-nổi trong thế-gian, gây nhiều việc tham-dâm, lại giả làm người thiện-tri-thức, khiến cho các chúng-sinh sa vào hầm ái-kiến; bỏ mất con đường Bồ-đề. Ông dạy người đời tu pháp Tam-ma-đề, trước hết phải đoạn cái dâm trong tự tâm. Ấy gọi là lời dạy-bảo rõ-ràng thanh-tịnh, quyết-định thứ nhất của các đức Như-lai Tiên-Phật Thế-tôn. Vậy nên ông A-nan, nếu không đoạn lòng dâm mà tu thiền-định, thì cũng như nấu cát, nấu đá muốn cho thành cơm, dầu trải qua trăm nghìn kiếp cũng chỉ gọi là cát nóng, đá nóng, vì cớ sao? Vì đó là giống cát, giống đá, không phải là bản-nhân của cơm vậy. Ông đem thân dâm cầu diệu-quả của Phật, dầu được diệu-ngộ, cũng chỉ là gốc dâm, cỗi-gốc đã thành dâm, thì phải trôi-lăn trong tam-đồ, chắc không ra khỏi, còn đường nào tu-chứng Niết-bàn Như-lai. Chắc phải khiến cho thân tâm đều đoạn hết giống dâm, cho đến tính-đoạn cũng không còn nữa, thì mới trông-mong chứng quả Bồ-đề của Phật. Như lời tôi nói đây, gọi là lời nói của Phật; không như lời nói đó, tức là lời nói của ma Ba-tuần."

ĐOẠN II - CHỈ VỀ QUYẾT-ĐỊNH ĐOẠN LÕNG SÁT

「阿難!又諸世界六道眾生,其心不殺,則不隨其生死相續。汝修三昧本出塵勞,殺心不除,塵不可出。縱有多智、禪定現前,如不斷殺,必落神道:上品之人為大力鬼,中品即為飛行夜叉、諸鬼帥等,下品當為地行羅剎。彼諸鬼神亦有徒眾,各各自謂成無上道。我滅度後末法之中,多此神鬼熾盛世間,自言食肉得菩提路。阿難!我令比丘食五淨肉,此肉皆我神力化生,本無命根。汝婆羅門地多蒸濕,加以沙石,草菜不生;我以大悲神力所加,因大慈悲假名為肉,汝得其味。奈何如來滅度之後,食眾生肉,名為釋子?汝等當知是食肉人,縱得心開似三摩地,皆大羅剎,報終必沈生死苦海,非佛弟子。如是之人,相殺、相吞、相食未已,云何是人得出三界?汝教世人修三摩地,次斷殺生;是名如來先佛世尊第二決定清淨明誨。

“A-nan! Hựu chư thế giới lục đạo chúng sinh, kỳ tâm bất sát, tắc bất tùy kỳ sinh tử tương tục. Nhữ tu tam-muội bản xuất trần lao, sát tâm bất trừ, trần bất khả xuất. Túng hữu đa trí, thiền định hiện tiền, như bất đoạn sát, tất lạc thần đạo: Thượng phẩm chi nhân vi đại lực quỷ, trung phẩm tức vi phi hành dạ xoa, chư quỷ soái đẳng, hạ phẩm đương vi địa hành la-sát. Bỉ chư quỷ thần diệc hữu đồ chúng, các các tự vị thành vô thượng đạo. Ngã diệt độ hậu mạt pháp chi trung, đa thử thần quỷ sí thịnh thế gian, tự ngôn thực nhục đắc Bồ-đề lộ. A-nan! Ngã lệnh tỳ-kheo thực ngũ tịnh nhục, thử nhục giai ngã thần lực hóa sinh, bản vô mệnh căn. Nhữ bà-la-môn địa đa chưng thấp, gia dĩ sa thạch, thảo thái bất sinh; ngã dĩ đại bi thần lực sở gia, nhân đại từ bi giả danh vi nhục, nhữ đắc kỳ vị. Nại hà Như-lai diệt độ chi hậu, thực chúng sinh nhục, danh vi thích tử? Nhữ đẳng đương tri thị thực nhục nhân, túng đắc tâm khai tự tam-ma địa, giai đại la-sát, báo chung tất trầm sinh tử khổ hải, phi Phật đệ tử. Như thị chi nhân, tướng sát, tướng thôn, tướng thực vị dĩ, vân hà thị nhân đắc xuất tam giới? Nhữ giáo thế nhân tu tam-ma địa, thứ đoạn sát sinh; thị danh Như-lai tiên Phật Thế-tôn đệ nhị quyết định thanh tịnh minh hối.

"A-nan, lại các chúng-sinh lục-đạo trong các thế-giới, nếu cái tâm không sát, thì không theo dòng sinh-tử tiếp-tục. Ông tu phép Tam-muội, cốt ra khỏi trần-lao, nếu không trừ lòng sát, thì không thể ra khỏi trần-lao được. Dầu có nhiều trí thiền-định hiện-tiền, nếu không đoạn lòng sát, thì chắc phải lạc vào thần-đạo; người bậc trên thì thành đại-lực-quỷ, người bậc giữa thì thành phi-hành-dạ-xoa và các loài quỷ-soái, người bậc dưới thì thành địa-hành la-sát, các loài quỷ-thần kia cũng có đồ-chúng, mỗi mỗi tự xưng là thành đạo vô-thượng. Sau khi tôi diệt-độ rồi, trong đời mạt-pháp, có nhiều quỷ-thần nầy sôi-nổi trong thế-gian, tự nói rằng ăn thịt, được đạo Bồ-đề. A-nan, tôi khiến hàng tỷ-khưu ăn năm thứ tịnh-nhục, thịt kia đều do thần-lực tôi hóa-sinh ra, vốn không có mạng-căn. Xứ Bà-la-môn các ông, đất-đai phần nhiều nóng-ướt, lại thêm cát đá, rau-cỏ không sinh được; tôi dùng sức đại-bi gia-bị, nhân sức đại-từ-bi, giả gọi là thịt và các ông cũng nhận được cái vị như thịt; làm sao, sau khi Như-lai diệt-độ, người ăn thịt chúng-sinh, lại gọi là Phật-tử! Các ông nên biết những người ăn thịt đó, dầu cho tâm được khai-ngộ, giống như Tam-ma-đề, đều là loài la-sát, quả-báo hết rồi, phải chìm-đắm trong bể khổ, không phải đệ-tử Phật. Những người như vậy, giết nhau, nuốt nhau, ăn nhau chưa thôi, làm sao, lại được ra khỏi ba cõi. Ông dạy người đời tu phép Tam-ma-đề, thứ nữa, phải đoạn lòng sát. Ấy gọi là lời dạy rõ-ràng thanh-tịnh, quyết-định thứ hai của các đức Như-lai Tiên-Phật Thế-tôn.

「是故阿難!若不斷殺修禪定者,譬如有人自塞其耳,高聲大叫求人不聞,此等名為欲隱彌露。清淨比丘及諸菩薩,於岐路行不踏生草,況以手拔?云何大悲,取諸眾生血肉充食?

“Thị cố A-nan! Nhược bất đoạn sát tu thiền định giả, thí như hữu nhân tự tắc kỳ nhĩ, cao thanh đại khiếu cầu nhân bất văn, thử đẳng danh vi dục ẩn di lộ. Thanh tịnh tỳ-kheo cập chư Bồ-tát, ư kỳ lộ hành bất đạp sinh thảo, huống dĩ thủ bạt? Vân hà đại bi, thủ chư chúng sinh huyết nhục sung thực?

Vậy nên A-nan, nếu không đoạn lòng sát mà tu thiền-định, thì cũng ví-như có người tự bịt lỗ tai, cất tiếng kêu to mà trông-mong người khác không nghe; bọn này gọi là muốn giấu thì càng lộ. Hàng tỷ-khưu thanh-tịnh và các vị Bồ-tát đi trong đường rẽ, không dẫm cỏ non, huống nữa là lấy tay nhổ cỏ; làm sao đức Đại-bi, lại lấy máu thịt của các chúng-sinh, mà làm đồ-ăn?

若諸比丘不服東方絲綿絹帛,及是此土靴履裘毳、乳酪醍醐,如是比丘於世真脫,酬還宿債,不遊三界。何以故?服其身分皆為彼緣。如人食其地中百穀,足不離地。必使身心,於諸眾生若身、身分,身心二途不服不食,我說是人真解脫者。如我此說,名為佛說;不如此說,即波旬說。

Nhược chư tỳ-kheo bất phục đông phương tơ miên quyên bạch, cập thị thử thổ ngoa lý cừu thuế, nhũ lạc đề-hồ, như thị tỳ-kheo ư thế chân thoát, thù hoàn túc trái, bất du tam giới. Hà dĩ cố? Phục kỳ thân phân giai vi bỉ duyên. Như nhân thực kỳ địa trung bách cốc, túc bất ly địa. Tất sử thân tâm, ư chư chúng sinh nhược thân, thân phân, thân tâm nhị đồ bất phục bất thực, ngã thuyết thị nhân chân giải thoát giả. Như ngã thử thuyết, danh vi Phật thuyết; bất như thử thuyết, tức ba tuần thuyết.

Nếu các hàng tỷ-khưu không mặc những đồ tơ-lụa, là-lượt phương Đông và không dùng những giày-dép, áo-cừu, áo-len hay các thứ sữa, phó-mát, đề-hồ, thì những tỷ-khưu như thế, đối với thế-gian, thật là giải-thoát, trả hết nợ cũ xong, thì không vào trong ba cõi nữa, vì cớ sao? Dùng những bộ-phận thân-thể chúng-sinh, thì đều bị ảnh-hưởng chúng-sinh, cũng như con người ăn giống bách-cốc trong đất, thì chân không rời khỏi đất. Quyết phải khiến cho thân tâm, đối với thân-thể hay bộ-phận thân-thể của chúng-sinh, đều không mặc, không ăn, thì những người như thế, tôi mới gọi thật là giải-thoát. Như lời tôi nói đây, gọi là lời nói của Phật; không như lời nói đó, tức là lời nói của ma Ba-tuần."

ĐOẠN III - CHỈ VỀ QUYẾT-ĐỊNH ĐOẠN LÕNG THÂU-ĐẠO

「阿難!又復世界六道眾生,其心不偷,則不隨其生死相續。汝修三昧本出塵勞,偷心不除,塵不可出。縱有多智、禪定現前,如不斷偷,必落邪道:上品精靈,中品妖魅,下品邪人、諸魅所著。彼等群邪亦有徒眾,各各自謂成無上道。我滅度後末法之中,多此妖邪熾盛世間。潛匿姦欺,稱善知識,各自謂己得上人法。詃惑無識,恐令失心,所過之處,其家耗散。我教比丘循方乞食,令其捨貪,成菩薩道。諸比丘等不自熟食,寄於殘生,旅泊三界,示一往還去已無返。云何賊人假我衣服、󰑴販如來?造種種業,皆言佛法。却非出家具戒比丘,為小乘道。由是疑誤無量眾生,墮無間獄。若我滅後,其有比丘發心決定修三摩提,能於如來形像之前,身然一燈,燒一指節,及於身上爇一香炷,我說是人無始宿債一時酬畢,長挹世間,永脫諸漏。雖未即明無上覺路,是人於法已決定心。若不為此捨身微因,縱成無為,必還生人酬其宿債。如我馬麥,正等無異。汝教世人修三摩地,後斷偷盜;是名如來先佛世尊第三決定清淨明誨。「是故阿難!若不斷偷修禪定者,譬如有人水灌漏巵,欲求其滿,縱經塵劫終無平復。若諸比丘,衣鉢之餘分寸不畜,乞食餘分施餓眾生,於大集會合掌禮眾,有人捶罵同於稱讚。必使身心二俱捐捨,身肉骨血與眾生共。不將如來不了義說迴為己解,以誤初學。佛印是人,得真三昧。如我所說,名為佛說;不如此說,即波旬說。

“A-nan! Hựu phục thế giới lục đạo chúng sinh, kỳ tâm bất thâu, tắc bất tùy kỳ sinh tử tương tục. Nhữ tu tam-muội bản xuất trần lao, thâu tâm bất trừ, trần bất khả xuất. Túng hữu đa trí, thiền định hiện tiền, như bất đoạn thâu, tất lạc tà đạo: Thượng phẩm tinh linh, trung phẩm yêu mị, hạ phẩm tà nhân, chư mị sở trước. Bỉ đẳng quần tà diệc hữu đồ chúng, các các tự vị thành vô thượng đạo. Ngã diệt độ hậu mạt pháp chi trung, đa thử yêu tà sí thịnh thế gian. Tiềm nặc gian khi, xưng thiện tri thức, các tự vị kỷ đắc thượng nhân pháp. Quyến hoặc vô thức, khủng lệnh thất tâm, sở quá chi xứ, kỳ gia hao tán. Ngã giáo tỳ-kheo tuần phương khất thực, lệnh kỳ xả tham, thành Bồ-tát đạo. Chư tỳ-kheo đẳng bất tự thục thực, ký ư tàn sinh, lữ bạc tam giới, thị nhất vãng hoàn khứ dĩ vô phản. Vân hà tặc nhân giả ngã y phục, bì phiến Như-lai? Tạo chủng chủng nghiệp, giai ngôn Phật pháp. Khước phi xuất gia cụ giới tỳ-kheo, vi tiểu thừa đạo. Do thị nghi ngộ vô lượng chúng sinh, đọa vô gian ngục. Nhược ngã diệt hậu, kỳ hữu tỳ-kheo phát tâm quyết định tu tam-ma-đề, năng ư Như-lai hình tượng chi tiền, thân nhiên nhất đăng, thiêu nhất chỉ tiết, cập ư thân thượng nhiệt nhất hương chú, ngã thuyết thị nhân vô thủy túc trái nhất thời thù tất, trưởng ấp thế gian, vĩnh thoát chư lậu. Tuy vị tức minh vô thượng giác lộ, thị nhân ư pháp dĩ quyết định tâm. Nhược bất vi thử xả thân vi nhân, túng thành vô vi, tất hoàn sinh nhân thù kỳ túc trái. Như ngã mã mạch, chính đẳng vô dị. Nhữ giáo thế nhân tu tam-ma địa, hậu đoạn thâu đạo; thị danh Như-lai tiên Phật Thế-tôn đệ tam quyết định thanh tịnh minh hối. “Thị cố A-nan! Nhược bất đoạn thâu tu thiền định giả, thí như hữu nhân thủy quán lậu chi, dục cầu kỳ mãn, túng kinh trần kiếp chung vô bình phục. Nhược chư tỳ-kheo, y bát chi dư phân thốn bất súc, khất thực dư phân thi ngạ chúng sinh, ư đại tập hội hợp chưởng lễ chúng, hữu nhân chủy mạ đồng ư xưng tán. Tất sử thân tâm nhị câu quyên xả, thân nhục cốt huyết dữ chúng sinh cộng. Bất tương Như-lai bất liễu nghĩa thuyết hồi vi kỷ giải, dĩ ngộ sơ học. Phật ấn thị nhân, đắc chân tam-muội. Như ngã sở thuyết, danh vi Phật thuyết; bất như thử thuyết, tức ba tuần thuyết.

"A-nan, lại như chúng-sinh lục-đạo trong thế-giới, tâm không thâu-đạo, thì không theo dòng sinh-tử tiếp-tục. Ông tu phép Tam-muội, cốt ra khỏi trần-lao, nếu lòng thâu-đạo không trừ, thì không thể ra khỏi trần-lao được; dầu có nhiều trí thiền-định hiện-tiền, nếu không đoạn được lòng thâu-đạo, thì chắc phải lạc vào tà-đạo, hạng trên thì thành tinh-linh, hạng giữa thì thành yêu-mị, hạng dưới thì thành người tà-đạo bị các loài quỷ-mị nhập vào; các bọn tà-đạo kia cũng có đồ-chúng, mỗi mỗi tự xưng là thành đạo vô-thượng. Sau khi tôi diệt-độ rồi, trong đời mạt-pháp, có nhiều những hạng yêu-mị tà-đạo ấy sôi-nổi trong thế-gian, chúng lén-núp gian-dối, tự xưng là thiện-tri-thức, mỗi người tự xưng đã được đạo-pháp thượng-nhân, lừa-gạt kẻ không biết, doạ-dẫm khiến cho mất lòng chính-tín; chúng đi qua đến đâu, cửa nhà người ta đều bị hao-tổn tan-nát. Tôi dạy hàng tỷ-khưu theo thứ lớp khất-thực để bỏ lòng tham, thành đạo Bồ-đề. Các hàng tỷ-khưu không tự nấu ăn, gửi cái sống thừa tạm-bợ trong ba cõi, thị-hiện chỉ đi về một phen, đi rồi không trở lại nữa. Làm sao, bọn giặc mượn y-phục đạo Phật, buôn-bán Như-lai, gây các thứ nghiệp mà đều gọi là Phật-pháp, lại còn chê-bai các vị tỷ-khưu đầy-đủ giới-luật xuất-gia là đạo Tiểu-thừa; do chúng làm cho vô-lượng chúng-sinh mắc phải nghi-lầm, nên sẽ bị đọa vào ngục vô-gián. Sau khi tôi diệt-độ rồi, nếu có tỷ-khưu phát-tâm quyết-định tu phép Tam-ma-đề, biết ở trước hình-tượng Như-lai, chính mình thắp một cây đèn, đốt một đốt ngón tay hay ở trên thân, đốt một mồi hương, tôi nói người ấy, túc-trái vô-thủy, trong một thời trả hết, cáo-từ thế-gian, thoát hẳn các lậu. Người ấy, tuy chưa hiểu rõ đạo vô-thượng-giác, nhưng đối với Phật-pháp, tâm đã quyết-định; nếu không làm được cái nhân nhỏ-mọn xả-thân ấy, thì dầu thành đạo vô-vi, cùng phải lại sinh làm người, trả các nợ củ, như quả-báo mã-mạch của tôi, thật không sai khác. Ông dạy người đời tu phép Tam-ma-đề, sau nữa, phải đoạn lòng thâu-đạo. Ấy gọi là lời-dạy rõ-ràng thanh-tịnh, quyết-định thứ ba của các đức Như-lai Tiên-Phật Thế-tôn. Vậy nên ông A-nan, nếu không đoạn lòng thâu-đạo mà tu thiền-định, thì cũng như người lấy nước rót vào chén thủng, mong cho đầy chén, dầu trải qua kiếp-số như vi-trần, rốt-cuộc không thể đầy được. Nếu các hàng tỷ-khưu, ngoài y-bát ra, mảy-may không tích-trữ, xin ăn có dư, thì bố-thí cho chúng-sinh đói, nơi nhóm Hội lớn, chấp tay vái chào đại-chúng, có người đánh-mắng cũng đồng như khen-ngợi, quyết-định rời-bỏ cả thân và tâm, thân-thịt xương-máu thành sở-hữu chung của chúng-sinh, không đem những lời-dạy bất-liễu-nghĩa của Như-lai làm chỗ hiểu của mình, khiến cho kẻ sơ-học phải lầm-lạc, thì Phật ấn-chứng người ấy, thật được Tam-muội. Như lời tôi nói đây, gọi là lời nói của Phật; không như lời nói đó, tức là lời nói của ma Ba-tuần."

ĐOẠN IV - CHỈ VỀ QUYẾT-ĐỊNH ĐOẠN LÕNG VỌNG

「阿難!如是世界六道眾生,雖則身心無殺、盜、婬,三行已圓;若大妄語,即三摩提不得清淨,成愛見魔,失如來種。所謂未得謂得,未證言證,或求世間尊勝第一。謂前人言:『我今已得須陀洹果、斯陀含果、阿那含果、阿羅漢道、辟支佛乘、十地、地前諸位菩薩。』求彼禮懺,貪其供養,是一顛迦,銷滅佛種。如人以刀斷多羅木,佛記是人永殞善根,無復知見,沈三苦海,不成三昧。我滅度後,勅諸菩薩及阿羅漢,應身生彼末法之中,作種種形度諸輪轉——或作沙門、白衣居士、人王、宰官、童男、童女,如是乃至婬女、寡婦、姦偷、屠販——與其同事稱歎佛乘,令其身心入三摩地,終不自言『我真菩薩、真阿羅漢』,泄佛密因,輕言未學;唯除命終,陰有遺付。云何是人惑亂眾生,成大妄語?汝教世人修三摩地,後復斷除諸大妄語,是名如來先佛世尊第四決定清淨明誨。

“A-nan! Như thị thế giới lục đạo chúng sinh, tuy tắc thân tâm vô sát, đạo, dâm, tam hành dĩ viên; nhược đại vọng ngữ, tức tam-ma-đề bất đắc thanh tịnh, thành ái kiến ma, thất Như-lai chủng. Sở vị vị đắc vị đắc, vị chứng ngôn chứng, hoặc cầu thế gian tôn thắng đệ nhất. Vị tiền nhân ngôn: ‘Ngã kim dĩ đắc Tu-đà-hoàn quả, tư đà hàm quả, A-na-hàm quả, A-la-hán đạo, Bích-chi Phật thừa, thập địa, địa tiền chư vị Bồ-tát.’ Cầu bỉ lễ sám, tham kỳ cúng dường, thị nhất điên ca, tiêu diệt Phật chủng. Như nhân dĩ đao đoạn đa la mộc, Phật ký thị nhân vĩnh vẫn thiện căn, vô phục tri kiến, trầm tam khổ hải, bất thành tam-muội. Ngã diệt độ hậu, sắc chư Bồ-tát cập A-la-hán, ứng thân sinh bỉ mạt pháp chi trung, tác chủng chủng hình độ chư luân chuyển——hoặc tác sa môn, bạch y cư sĩ, nhân vương, tể quan, đồng nam, đồng nữ, như thị nãi chí dâm nữ, quả phụ, gian thâu, đồ phiến——dữ kỳ đồng sự xưng thán Phật thừa, lệnh kỳ thân tâm nhập tam-ma địa, chung bất tự ngôn ‘ngã chân Bồ-tát, chân A-la-hán’, tiết Phật mật nhân, khinh ngôn vị học; duy trừ mệnh chung, âm hữu di phó. Vân hà thị nhân hoặc loạn chúng sinh, thành đại vọng ngữ? Nhữ giáo thế nhân tu tam-ma địa, hậu phục đoạn trừ chư đại vọng ngữ, thị danh Như-lai tiên Phật Thế-tôn đệ tứ quyết định thanh tịnh minh hối.

"A-nan, chúng-sinh lục-đạo trong thế-giới như thế, tuy nơi thân tâm không còn sát, đạo, dâm, cả ba hạnh đã được viên-mãn, nếu mắc phải đại-vọng-ngữ, thì Tam-ma-đề không được thanh-tịnh, thành giống ma ái-kiến và mất giống Như-lai; tức như chưa được gọi rằng được, chưa chứng gọi rằng chứng, hoặc để cầu thế-gian tôn-trọng tột-bậc, bảo người khác rằng: Nay tôi đã được quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, đạo A-la-hán, thừa Bích-chi-Phật hay các quả-vị Bồ-tát trong thập-địa hay trước thập-địa, trông-mong người kia lễ-sám, tham sự cúng-dường. Những tên nhất-điên-ca ấy, tự tiêu-diệt giống Phật, như người lấy dao chặt cây đa-la; Phật ấn-ký người ấy, mất hẳn thiện-căn, không còn chính-tri-kiến, chìm-đắm trong ba bể khổ, không thành-tựu pháp Tam-muội. Tôi bảo các hàng Bồ-tát và A-la-hán, sau khi tôi diệt-độ rồi, hiện ra ứng-thân, sinh trong đời mạt-pháp kia, hiện ra nhiều hình-tướng khác nhau, đề độ những người còn trong vòng luân-hồi, hoặc làm sa-môn, bạch-y-cư-sĩ, vua-chúa, quan-lại, đồng-nam, đồng-nữ, như thế cho đến người dâm-nữ, người quả-phụ, người gian-dối, trộm-cắp, người hàng-thịt, buôn-bán, để khen-ngợi Phật-thừa với những người đồng-sự, khiến cho thân tâm của họ vào được Tam-ma-đề; nhưng rốt-ráo không tự bảo rằng tôi thật là Bồ-tát, thật là A-la-hán, khinh-xuất nói với những người chưa học, làm tiết-lậu mật-nhân của Phật, chỉ trừ đến lâm-chung, hoặc chăng, thầm có những lời di-chúc; làm sao, lại còn có lừa-gạt chúng-sinh, thành tội đại-vọng-ngữ. Ông dạy người đời tu phép Tam-ma-đề, sau-rốt phải đoạn-trừ các đại-vọng-ngữ. Ấy gọi là lời-dạy rõ-ràng thanh-tịnh, quyết-định thứ tư của các đức Như-lai Tiên-Phật Thế-tôn.

「是故阿難!若不斷其大妄語者,如刻人糞為栴檀形,欲求香氣無有是處。我教比丘直心道場,於四威儀一切行中尚無虛假,云何自稱得上人法?譬如窮人妄號帝王,自取誅滅。況復法王,如何妄竊?因地不直,果招紆曲。求佛菩提,如噬臍人欲誰成就?若諸比丘心如直絃,一切真實,入三摩提永無魔事。我印是人,成就菩薩無上知覺。如我是說,名為佛說;不如此說,即波旬說。

“Thị cố A-nan! Nhược bất đoạn kỳ đại vọng ngữ giả, như khắc nhân phân vi chiên-đàn hình, dục cầu hương khí vô hữu thị xứ. Ngã giáo tỳ-kheo trực tâm đạo tràng, ư tứ uy nghi nhất thiết hành trung thượng vô hư giả, vân hà tự xưng đắc thượng nhân pháp? Thí như cùng nhân vọng hiệu đế vương, tự thủ tru diệt. Huống phục pháp vương, như hà vọng thiết? Nhân địa bất trực, quả chiêu hu khúc. Cầu Phật Bồ-đề, như phệ tề nhân dục thùy thành tựu? Nhược chư tỳ-kheo tâm như trực huyền, nhất thiết chân thực, nhập tam-ma-đề vĩnh vô ma sự. Ngã ấn thị nhân, thành tựu Bồ-tát vô thượng tri giác. Như ngã thị thuyết, danh vi Phật thuyết; bất như thử thuyết, tức ba tuần thuyết.

Vậy nên ông A-nan, nếu không đoạn-trừ lòng đại-vọng-ngữ, thì cũng như khắc phân người làm thành hình cây chiên-đàn, mà muốn được hương-thơm, thật không có lẽ nào như vậy. Tôi dạy hàng tỷ-khưu lấy trực-tâm làm đạo-trường, trong hết thảy hành-động, nơi bốn uy-nghi, còn không có giả-dối, làm sao, lại có kẻ tự xưng đã được đạo-pháp thượng-nhân! Ví-như người dân-cùng xưng càn là đế-vương để tự chuốc lấy sự tru-diệt, huống nữa, là vị Pháp-vương, làm sao, lại dám xưng-càn! Nhân đã không thật, quả ắt quanh-co, như thế, mà cầu đạo Bồ-đề của Phật, thì cũng như người muốn cắn rốn, làm sao, mà thành-tựu được. Nếu như các hàng tỷ-khưu, tâm như dây đàn thẳng, tất-cả đều chân-thật mà vào Tam-ma-đề, thì hẳn không có các ma-sự, tôi ấn-chứng người đó, thành-tựu được vô-thượng tri-giác của các hàng Bồ-tát. Như lời tôi nói đây, gọi là lời nói của Phật; không như lời nói đó, tức là lời nói của ma Ba-tuần."

大佛頂萬行首楞嚴經卷第六

Đại Phật đỉnh vạn hạnh Thủ-lăng-nghiêm kinh quyển đệ lục

(Hết Quyển Sáu — bản dịch không có dòng kết quyển tương ứng)

Hết Quyển Sáu

Tìm kinh, kệ, chú, truyện, pháp âm…