Quyển Bảy

Ghi chú: (1) Việt văn giữ nguyên theo ebook nguồn; chỉ chuẩn hoá glyph font cũ. (2) VỀ BẢN CHÚ LĂNG NGHIÊM: Đại Chính tạng quyển 7 chép HAI truyền bản chú — bản trong kinh văn (南牟薩怛他... 439 câu theo ghi chú tạng bản) và bản khắc phụ ở cuối quyển (南無薩怛他...). Bản phiên âm 427 câu của dịch giả trong ebook theo truyền bản tụng phổ thông, tương ứng bản cuối quyển, nên tầng ÂM đặt tại khối chú CUỐI QUYỂN; khối chú giữa kinh văn giữ nguyên Hán và ghi chú rõ. (3) Ebook nguồn THIẾU 1 đoạn trong 12 loại chúng-sinh (loài vô-sắc — điên-đảo về hoặc), đã giữ Hán văn và đánh dấu ở tầng VIỆT. (4) Toàn bộ Hán văn các khối ghép lại đã kiểm chứng khớp 100% từng chữ với nguyên bản CBETA quyển 7.

QUYỂN BẢY

MỤC III - PHẬT KHAI-THỊ VỀ MẬT-GIÁO, THẦM-GIÚP CHO NHỮNG NGƯỜI TU-HÀNH

大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經卷第七唐天竺沙門般剌蜜諦譯

Đại Phật đỉnh Như-lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ-tát vạn hạnh Thủ-lăng-nghiêm kinh quyển đệ thất Đường Thiên-trúc sa môn bát lạt mật đế dịch

(Đề quyển — bản dịch không lặp lại đề-mục ở đầu quyển)

「阿難!汝問攝心,我今先說入三摩地修學妙門。求菩薩道,要先持此四種律儀,皎如氷霜,自不能生一切枝葉。心三口四,生必無因。阿難!如是四事若不失遺,心尚不緣色、香、味、觸,一切魔事云何發生?若有宿習不能滅除,汝教是人一心誦我佛頂光明摩訶薩怛多般怛囉無上神呪。斯是如來無見頂相無為心佛,從頂發輝,坐寶蓮華所說心呪。

“A-nan! Nhữ vấn nhiếp tâm, ngã kim tiên thuyết nhập tam-ma địa tu học diệu môn. Cầu Bồ-tát đạo, yếu tiên trì thử tứ chủng luật nghi, kiểu như băng sương, tự bất năng sinh nhất thiết chi diệp. Tâm tam khẩu tứ, sinh tất vô nhân. A-nan! Như thị tứ sự nhược bất thất di, tâm thượng bất duyên sắc, hương, vị, xúc, nhất thiết ma sự vân hà phát sinh? Nhược hữu túc tập bất năng diệt trừ, nhữ giáo thị nhân nhất tâm tụng ngã Phật đỉnh quang minh Ma-ha tát đát đa bát-đát-la vô thượng thần chú. Tư thị Như-lai vô kiến đỉnh tướng vô vi tâm Phật, tùng đỉnh phát huy, tọa bảo liên hoa sở thuyết tâm chú.

"A-nan, ông hỏi cách nhiếp-trì tâm-niệm, thì tôi đã nói rằng: Người muốn vào Tam-ma-đề, tu-học pháp-môn nhiệm-mầu, cầu đạo Bồ-tát; trước hết cần giữ 4 thứ luật-nghi đó trong-sáng như giá, như sương, tự không thể sinh ra được tất-cả ngành lá; ba ý-nghiệp, bốn khẩu-nghiệp ác chắn không còn có nhân mà sinh được. A-nan, nếu giữ 4 việc như vậy không thiếu-sót, thì tâm còn không duyên với sắc, hương, vị, xúc, tất-cả ma-sự làm sao mà phát-sinh được. Nếu có tập-khí cũ không thể diệt-trừ, ông dạy người đó nhất-tâm tụng thần-chú vô-thượng "Phật-đỉnh quang-minh ma-ha tát-đát-đa bát-đát-ra" của tôi, đó là cái tâm-chú do Vô-vi-tâm-Phật của Vô-kiến-đỉnh-tướng Như-lai, từ nơi đỉnh hiện ra, ngồi trên hoa sen báu mà nói.

且汝宿世與摩登伽,歷劫因緣恩愛習氣,非是一生及與一劫,我一宣揚,愛心永脫成阿羅漢。彼尚婬女無心修行,神力冥資速證無學,云何汝等在會聲聞,求最上乘決定成佛。譬如以塵揚于順風,有何艱險?

Thả nhữ túc thế dữ Ma-đăng-già, lịch kiếp nhân duyên ân ái tập khí, phi thị nhất sinh cập dữ nhất kiếp, ngã nhất tuyên dương, ái tâm vĩnh thoát thành A-la-hán. Bỉ thượng dâm nữ vô tâm tu hành, thần lực minh tư tốc chứng vô học, vân hà nhữ đẳng tại hội thanh văn, cầu tối thượng thừa quyết định thành Phật. Thí như dĩ trần dương vu thuận phong, hữu hà gian hiểm?

Vả lại, ông cùng nàng Ma-đăng-già, do nhân-duyên nhiều kiếp đời trước thành tập-khí ân-ái, không phải một đời hay là một kiếp; song, một phen tôi tuyên-dương thần-chú, thì Nàng Ma-đăng-già thoát hẳn khỏi lòng yêu, thành quả A-la-hán. Nàng kia, còn là dâm-nữ, không có tâm tu-hành, do sức thần-chú giúp, cũng mau chứng quả vô-học; thế thì bọn ông, những hàng Thanh-văn trong Hội nầy, cầu Tối-thượng-thừa, thì quyết-định sẽ thành Phật, cũng ví-như bụi bay gặp gió thuận, có khó-khăn gì?

「若有末世欲坐道場,先持比丘清淨禁戒,要當選擇戒清淨者第一沙門以為其師。若其不遇真清淨僧,汝戒律儀必不成就。戒成已後,著新淨衣,然香閑居。誦此心佛所說神呪一百八遍,然後結界建立道場。求於十方現住國土無上如來,放大悲光來灌其頂。

“Nhược hữu mạt thế dục tọa đạo tràng, tiên trì tỳ-kheo thanh tịnh cấm giới, yếu đương tuyển trạch giới thanh tịnh giả đệ nhất sa môn dĩ vi kỳ sư. Nhược kỳ bất ngộ chân thanh tịnh tăng, nhữ giới luật nghi tất bất thành tựu. Giới thành dĩ hậu, trước tân tịnh y, nhiên hương nhàn cư. Tụng thử tâm Phật sở thuyết thần chú nhất bách bát biến, nhiên hậu kết giới kiến lập đạo tràng. Cầu ư thập phương hiện trụ quốc độ vô thượng Như-lai, phóng đại bi quang lai quán kỳ đỉnh.

Nếu có người, trong đời mạt-pháp, muốn ngồi đạo-trường tu-hành, trước hết phải giữ cấm-giới tỷ-khưu thanh-tịnh và cần phải lựa-chọn những vị sa-môn giữ-giới thanh-tịnh bậc nhất để làm thầy mình; nếu không gặp được tăng-chúng thật thanh-tịnh, thì giới-luật-nghi chắc không thành-tựu được. Sau khi giới được thành-tựu rồi, người đó đắp-y mới, sạch-sẽ, đốt hương, ở riêng một mình, tụng thần-chú, do tâm-Phật nói, một trăm tám biến; về sau, kết-giới dựng-lập đạo-trường, cầu các đức vô-thượng Như-lai, hiện ở trong các cõi-nước mười phương, phóng hào-quang đại-bi đến rọi nơi đỉnh-đầu mình.

阿難!如是末世清淨比丘,若比丘尼、白衣檀越,心滅貪婬,持佛淨戒;於道場中發菩薩願,出入澡浴,六時行道。如是不寐,經三七日,我自現身至其人前,摩頂安慰,令其開悟。」

A-nan! Như thị mạt thế thanh tịnh tỳ-kheo, nhược tỳ-kheo ni, bạch y đàn-việt, tâm diệt tham dâm, trì Phật tịnh giới; ư đạo tràng trung phát Bồ-tát nguyện, xuất nhập táo dục, lục thời hành đạo. Như thị bất mị, kinh tam thất nhật, ngã tự hiện thân chí kỳ nhân tiền, ma đỉnh an úy, lệnh kỳ khai ngộ.”

A-nan, những hàng thanh-tịnh tỷ-khưu, hoặc tỷ-khưu-ni, hoặc bạch-y đàn-việt như vậy, trong đời mạt-pháp, tâm diệt được tham-dâm, giữ giới thanh-tịnh của Phật, ở trong đạo-trường, phát-nguyện Bồ-tát, khi ra, khi vào, khi tắm, khi rửa, cả trong sáu thời đều hành-đạo như vậy, không ngủ, đến ba lần bảy ngày, thì tôi tự hiện-thân đến trước người ấy, xoa đỉnh an-ủi, khiến cho khai-ngộ".

MỤC IV - KHAI-THỊ NHỮNG PHÁP-TẮC LẬP ĐẠO-TRƯỜNG TU-TRÌ

ĐOẠN I - ÔNG A-NAN XIN HỎI VỀ QUY-TẮC ĐẠO-TRƯỜNG

阿難白佛言:「世尊!我蒙如來無上悲誨,心已開悟,自知修證無學道成;末法修行建立道場,云何結界,合佛世尊清淨軌則?」

A-nan bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Ngã mông Như-lai vô thượng bi hối, tâm dĩ khai ngộ, tự tri tu chứng vô học đạo thành; mạt pháp tu hành kiến lập đạo tràng, vân hà kết giới, hợp Phật Thế-tôn thanh tịnh quỹ tắc?”

Ông A-nan bạch Phật rằng: Thưa Thế-tôn, tôi nhớ lời từ-bi dạy-bảo vô-thượng của đức Như-lai, tâm đã khai-ngộ, tự biết con đường tu-chứng thành-quả vô-học, song, những người tu-hành, trong đời mạt-pháp, muốn lập đạo-trường, cần kết-giới thế nào, cho hợp với quy-tắc thanh-tịnh của chư Phật Thế-tôn?"

ĐOẠN II - KHAI-THỊ NGHI-THỨC ĐẠO-TRƯỜNG

佛告阿難:「若末世人願立道場,先取雪山大力白牛,食其山中肥膩香草,此牛唯飲雪山清水;其糞微細,可取其糞和合栴檀以泥其地。若非雪山,其牛臭穢不堪塗地。別於平原穿去地皮,五尺已下取其黃土,和上栴檀、沈水、蘇合、薰陸、欝金、白膠、青木、零陵、甘松、及雞舌香,以此十種細羅為粉,合土成泥,以塗場地。方圓丈六,為八角壇。壇心置一金、銀、銅、木所造蓮華,華中安鉢,鉢中先盛八月露水,水中隨安所有華葉。取八圓鏡各安其方,圍繞花鉢。鏡外建立十六蓮華,十六香鑪間花鋪設。莊嚴香鑪,純燒沈水,無令見火。取白牛乳置十六器,乳為煎餅,并諸沙糖、油餅、乳糜、酥合、蜜薑、純酥、純蜜,及諸菓子、飲食、葡萄、石蜜,種種上妙等食,於蓮華外各各十六,圍繞華外,以奉諸佛及大菩薩。

Phật cáo A-nan: “Nhược mạt thế nhân nguyện lập đạo tràng, tiên thủ tuyết sơn đại lực bạch ngưu, thực kỳ sơn trung phì nhị hương thảo, thử ngưu duy ẩm tuyết sơn thanh thủy; kỳ phân vi tế, khả thủ kỳ phân hòa hợp chiên-đàn dĩ nê kỳ địa. Nhược phi tuyết sơn, kỳ ngưu xú uế bất kham đồ địa. Biệt ư bình nguyên xuyên khứ địa bì, ngũ xích dĩ hạ thủ kỳ hoàng thổ, hòa thượng chiên-đàn, trầm thủy, tô hợp, huân lục, uất kim, bạch giao, thanh mộc, linh lăng, cam tùng, cập kê thiệt hương, dĩ thử thập chủng tế la vi phấn, hợp thổ thành nê, dĩ đồ tràng địa. Phương viên trượng lục, vi bát giác đàn. Đàn tâm trí nhất kim, ngân, đồng, mộc sở tạo liên hoa, hoa trung an bát, bát trung tiên thịnh bát nguyệt lộ thủy, thủy trung tùy an sở hữu hoa diệp. Thủ bát viên kính các an kỳ phương, vi nhiễu hoa bát. Kính ngoại kiến lập thập lục liên hoa, thập lục hương lò gian hoa phô thiết. Trang nghiêm hương lò, thuần thiêu trầm thủy, vô lệnh kiến hỏa. Thủ bạch ngưu nhũ trí thập lục khí, nhũ vi chiên bánh, tinh chư sa đường, dầu bánh, nhũ my, tô hợp, mật khương, thuần tô, thuần mật, cập chư quả tử, ẩm thực, bồ đào, thạch mật, chủng chủng thượng diệu đẳng thực, ư liên hoa ngoại các các thập lục, vi nhiễu hoa ngoại, dĩ phụng chư Phật cập đại Bồ-tát.

Phật bảo ông A-nan: "Nếu người trong đời mạt-pháp, muốn lập đạo-trường, trước hết, phải lấy phân con đại-lực-bạch-ngưu ở núi Tuyết-sơn, bạch-ngưu nầy, ăn cỏ-thơm ngon-tốt trong núi và chỉ uống nước trong trên núi Tuyết-sơn, nên cái phân mịn-màng; nên lấy cái phân nó, hòa-hợp với hương chiên-đàn để quét trên mặt đất. Nếu, không phải ở Tuyết-sơn, thì phân bạch-ngưu hôi-nhớp, không thể trát đất được. Vậy thì, phải riêng ở nơi bình-nguyên, đào bỏ các lớp đất trên mặt, lấy thứ đất vàng từ 5 thước trở xuống; rồi lấy 10 thứ hương là chiên-đàn, trầm-thủy, tô-hợp, huân-lục, uất-kim, bạch-giao, thanh-mộc, linh-lăng, cam-tùng và kê-thiệt, nghiền-rây thành bột, trộn với đất ấy thành bùn, để trát trên mặt đất đạo-trường, mỗi bề 1 trượng 6, thành cái đàn bát-giác. Giữa trung-tâm đàn, an-trí một hoa sen làm bằng vàng, bạc, đồng, cây, giữa hoa để một cái bát, trong bát đựng trước nước mù-sương tháng Tám và trong nước ấy tùy-ý cắm các hoa lá hiện có. Rồi lấy 8 cái gương tròn, mỗi cái để một phía, chung-quanh hoa sen và bát hoa. Bên ngoài những gương ấy, an-trí 16 hoa sen và giữa các hoa sen để 16 lư-hương cho trang-hoàng. Trong lư-hương đốt toàn hương trầm-thủy, không cho thấy lửa. Lấy sữa bạch-ngưu để trong 16 khí-mãnh; lấy sữa làm bánh-nướng và các thứ đường-cát, bánh-rán, bột-sữa, tô-hộp, mứt-gừng, mật-ong, bơ tốt, mật tốt, mỗi thứ 16 khí-mãnh, đặt ở ngoài hoa sen và quanh vòng hoa sen; để cúng-dâng chư Phật và các vị Đại-bồ-tát.

每以食時,若在中夜,取蜜半升,用酥三合;壇前別安一小火鑪,以兜樓婆香,煎取香水,沐浴其炭,然令猛熾;投是酥蜜於炎鑪內,燒令煙盡,饗佛、菩薩。

Mỗi dĩ thực thời, nhược tại trung dạ, thủ mật bán thăng, dụng tô tam hợp; đàn tiền biệt an nhất tiểu hỏa lò, dĩ đâu-lâu-bà hương, chiên thủ hương thủy, mộc dục kỳ thán, nhiên lệnh mãnh sí; đầu thị tô mật ư viêm lò nội, thiêu lệnh yên tận, hưởng Phật, Bồ-tát.

Trong mỗi thời ăn cơm và ở giữa đêm, lấy nửa thăng mật và 3 cáp bơ, trước đàn để riêng một lư lửa nhỏ; lấy hương đâu-lâu-bà, nấu lấy nước thơm, rửa than cho sạch; rồi đốt than đỏ hồng trong lư và rót mật bơ vào, đốt cho hết khói để cúng-dường chư Phật, Bồ-tát.

令其四外遍懸幡華。於壇室中,四壁敷設十方如來及諸菩薩所有形像。應於當陽,張盧舍那、釋迦、彌勒、阿閦、彌陀,諸大變化觀音形像兼金剛藏,安其左右。帝釋、梵王、烏芻瑟摩,并藍地迦、諸軍茶利,與毘俱知、四天王等,頻那、夜迦,張於門側,左右安置。又取八鏡,覆懸虛空。與壇場中所安之鏡,方面相對,使其形影重重相涉。

Lệnh kỳ tứ ngoại biến huyền phướn hoa. Ư đàn thất trung, tứ bích phu thiết thập phương Như-lai cập chư Bồ-tát sở hữu hình tượng. Ưng ư đương dương, trương Lô-xá-na, thích ca, Di-lặc, A-súc, Di-đà, chư đại biến hóa quán âm hình tượng kiêm kim cương tàng, an kỳ tả hữu. Đế thích, phạn vương, Ô-sô-sắt-ma, tinh Lam-địa-ca, chư Quân-trà-lợi, dữ Tỳ-câu-tri, tứ thiên vương đẳng, Tần-na, Dạ-ca, trương ư môn trắc, tả hữu an trí. Hựu thủ bát kính, phúc huyền hư không. Dữ đàn tràng trung sở an chi kính, phương diện tướng đối, sử kỳ hình ảnh trọng trọng tướng thiệp.

Ở 4 phía ngoài, treo khắp phan và hoa; ở trong phòng đàn, an-trí hình-tượng hiện có của thập phương Như-lai và các vị Bồ-tát nơi 4 vách. Nên ở chính-giữa để hình-tượng Phật Lô-xá-na, Phật Thích-ca, Phật Di-lặc, Phật A-xơ, Phật Di-đà và các hình-tượng đại-biến-hóa của Ngài Quán-âm, lại thêm, hình-tượng các vị Kim-cương-tạng Bồ-tát để ở hai bên; những tượng của Đế-thích, Phạm-vương, Ô-sô-sắt-ma, Lam-địa-ca, Quân-trà-lỵ, Tỳ-câu-chi và Tứ-thiên-vương, Tần-na, Dạ-ca, vân vân..., treo ở hai bên cửa; lại lấy 8 cái gương treo úp trên hư-không, mặt gương nầy đối-chiếu với 8 gương trước, đã để trong đàn-tràng, làm cho các hình-ảnh lồng-nhau nhiều lớp.

ĐOẠN III - KHAI-THỊ TU-TRÌ ĐƯỢC CHỨNG

「於初七日中,至誠頂禮十方如來、諸大菩薩及阿羅漢,恒於六時誦呪繞壇,至心行道。一時常行一百八遍。第二七中,一向專心發菩薩願,心無間斷。我毘奈耶,先有願教。第三七中,於十二時一向持佛般怛羅呪。至第七日,十方如來一時出現,鏡交光處承佛摩頂。即於道場修三摩地,能令如是末世修學,身心明淨猶如瑠璃。

“Ư sơ thất nhật trung, chí thành đỉnh lễ thập phương Như-lai, chư đại Bồ-tát cập A-la-hán, hằng ư lục thời tụng chú nhiễu đàn, chí tâm hành đạo. Nhất thời thường hành nhất bách bát biến. Đệ nhị thất trung, nhất hướng chuyên tâm phát Bồ-tát nguyện, tâm vô gian đoạn. Ngã tỳ-nại-da, tiên hữu nguyện giáo. Đệ tam thất trung, ư thập nhị thời nhất hướng trì Phật bát-đát-la chú. Chí đệ thất nhật, thập phương Như-lai nhất thời xuất hiện, kính giao quang xứ thừa Phật ma đỉnh. Tức ư đạo tràng tu tam-ma địa, năng lệnh như thị mạt thế tu học, thân tâm minh tịnh do như lưu-ly.

Trong tuần 7 ngày đầu, chí-thành đỉnh-lễ danh-hiệu thập phương Như-lai, các vị Đại-bồ-tát và A-la-hán, thường tron 6 thời tụng-chú đi quanh đàn, chí-tâm hành-đạo, một thời thường là 108 biến. Trong tuần 7 ngày thứ 2, một mặt chuyên-tâm phát-nguyện Bồ-tát, tâm không gián-đoạn; trong luật-nghi đạo, ta đã có chỉ-dạy về nguyện. Trong tuần 7 ngày thứ 3, trong cả 12 thời, một mặt trì-chú Bát-đát-ra của Phật; đến ngày thứ 7, thì thấy thập phương Như-lai một thời xuất-hiện, trong chỗ ánh-sáng các mặt gương giao-xen và được Phật xoa đỉnh. Rồi, liền ở nơi đạo-trường đó, tu phép Tam-ma-đề, có thể khiến cho những người tu-học như vậy, trong đời mạt-pháp, thân tâm được sáng-suốt, trong-sạch như ngọc lưu-ly.

阿難!若此比丘本受戒師及同會中十比丘等,其中有一不清淨者,如是道場多不成就。從三七後,端坐安居經一百日,有利根者不起于座,得須陀洹。縱其身心聖果未成,決定自知成佛不謬。汝問道場,建立如是。」

A-nan! Nhược thử tỳ-kheo bản thọ giới sư cập đồng hội trung thập tỳ-kheo đẳng, kỳ trung hữu nhất bất thanh tịnh giả, như thị đạo tràng đa bất thành tựu. Tùng tam thất hậu, đoan tọa an cư kinh nhất bách nhật, hữu lợi căn giả bất khởi vu tòa, đắc Tu-đà-hoàn. Túng kỳ thân tâm thánh quả vị thành, quyết định tự tri thành Phật bất mậu. Nhữ vấn đạo tràng, kiến lập như thị.”

A-nan, nếu trong các thầy truyền-giới cho vị tỷ-khưu ấy, hay trong 10 vị tỷ-khưu đồng-hội, có một người giới-hạnh không thanh-tịnh, thì những đạo-trường như thế, phần nhiều là không thành-tựu. Từ sau 3 tuần 7 ngày, ngồi nghiêm-chỉnh an-cư, trải qua một trăm ngày, thì những người có lợi-căn, không rời khỏi chỗ ngồi, đã được quả Tu-đà-hoàn; dầu cho nơi thân tâm thánh-quả chưa thành, nhưng đã quyết-định tự biết sẽ thành Phật, không sai-chạy. Ông hỏi về đạo-trường, thì cách dựng-lập như vậy".

MỤC V - TUYÊN-NÓI TÂM-CHÚ, RỘNG KHAI-THỊ NHỮNG LỢI-ÍCH

ĐOẠN I - PHÓNG HÀO-QUANG, KHẮP THỊ-HIỆN

阿難頂禮佛足,而白佛言:「自我出家,恃佛憍愛,求多聞故未證無為;遭彼梵天邪術所禁,心雖明了力不自由,賴遇文殊令我解脫。雖蒙如來佛頂神呪,冥獲其力,尚未親聞。唯願大慈重為宣說,悲救此會諸修行輩,末及當來在輪迴者,承佛密音身意解脫!」于時會中一切大眾,普皆作禮,佇聞如來祕密章句。

A-nan đỉnh lễ Phật túc, nhi bạch Phật ngôn: “Tự ngã xuất gia, thị Phật kiêu ái, cầu đa văn cố vị chứng vô vi; tao bỉ phạn thiên tà thuật sở cấm, tâm tuy minh liễu lực bất tự do, lại ngộ Văn-thù lệnh ngã giải thoát. Tuy mông Như-lai Phật đỉnh thần chú, minh hoạch kỳ lực, thượng vị thân văn. Duy nguyện đại từ trọng vi tuyên thuyết, bi cứu thử hội chư tu hành bối, mạt cập đương lai tại luân hồi giả, thừa Phật mật âm thân ý giải thoát!” Vu thời hội trung nhất thiết đại chúng, phổ giai tác lễ, trữ văn Như-lai bí mật chương cú.

Ông A-nan đỉnh-lễ chân Phật mà bạch Phật rằng: "Từ khi xuất-gia, tôi ỷ-lại nơi lòng thương-yêu của Phật; vì cầu tuệ đa-văn, chưa chứng quả vô-vi, nên bị tà-thuật Phạm-thiên kia bắt-buộc; tâm tuy rõ-ràng, nhưng sức không tự-do, nhờ gặp ngài Văn-thù, khiến cho tôi được giải-thoát. Tuy tôi thầm nhờ sức của thần-chú Phật-đỉnh Như-lai, nhưng chính mình còn chưa được nghe chú ấy, xin nguyện đức Đại-từ tuyên-nói lại cho, thương-xót cứu-giúp các hàng tu-hành trong Hội nầy và những người đời sau, còn trong luân-hồi, được nhờ mật-âm của Phật, mà thân-ý được giải-thoát". Lúc bấy giờ, tất-cả đại-chúng trong Hội thảy đều làm lễ, chờ nghe những câu chú bí-mật của Như-lai.

爾時,世尊從肉髻中涌百寶光,光中涌出千葉寶蓮,有化如來坐寶華中,頂放十道百寶光明,一一光明,皆遍示現十恒河沙金剛密跡,擎山持杵遍虛空界。大眾仰觀,畏愛兼抱,求佛恃怙,一心聽佛無見頂相放光如來宣說神呪。

Nhĩ thời, Thế-tôn tùng nhục kết trung dũng bách bảo quang, quang trung dũng xuất thiên diệp bảo liên, hữu hóa Như-lai tọa bảo hoa trung, đỉnh phóng thập đạo bách bảo quang minh, nhất nhất quang minh, giai biến thị hiện thập hằng hà sa kim cương mật tích, kình sơn trì xử biến hư không giới. Đại chúng ngưỡng quán, úy ái kiêm bão, cầu Phật thị hỗ, nhất tâm thính Phật vô kiến đỉnh tướng phóng quang Như-lai tuyên thuyết thần chú.

Lúc đó, đức Thế-tôn, từ nơi nhục-kế phóng ra trăm thứ hào-quang báu, trong hào-quang hiện ra hoa sen báu ngàn cánh, có hóa-thân Như-lai ngồi trong hoa sen, trên đình phóng ra mười đạo hào-quang bách-bảo; trong mỗi mỗi đạo hào-quang, đều hiện ra những vị Kim-cương mật-tích, số-lượng bằng mười số cát sông Hằng, xách núi, cầm xử, khắp cõi hư-không. Đại-chúng ngửa lên xem, vừa yêu vừa sợ, cầu Phật thương-xót che-chở, một tâm nghe đức Phóng-quang Như-lai, nơi Vô-kiến-đỉnh-tướng của Phật, tuyên-nói thần-chú :

ĐOẠN II - TUYÊN-ĐỌC THẦN-CHÚ PHẬT-ĐỈNH THỦ-LĂNG-NGHIÊM

大佛頂如來放光悉怛多鉢怛囉菩薩萬行品,灌頂部錄出,一名中印度那蘭陀曼茶羅灌頂金剛大道場神呪

Đại Phật đỉnh Như-lai phóng quang tất-đát-đa-bát-đát-la Bồ-tát vạn hạnh phẩm, quán đỉnh bộ lục xuất, nhất danh trung ấn độ Na-lan-đà mạn-trà-la quán đỉnh kim cương đại đạo tràng thần chú

(đề mục bản chú ghi trong Đại Chính tạng — bản dịch không có phần này)

南牟薩怛他蘇伽哆耶阿囉訶帝三藐三菩陀耶娜牟薩婆勃陀勃地薩哆吠弊娜牟颯哆喃三藐三菩陀俱胝喃薩失囉皤迦僧伽喃娜牟嚧雞阿囉喝哆喃娜牟蘇嚕哆半那喃娜牟塞羯唎陀伽彌喃娜牟盧鷄三藐伽哆喃娜牟三藐鉢囉底半那喃娜牟提婆唎史喃娜牟微悉陀耶微地也陀囉喃娜牟悉陀微地也陀囉㗚史喃舍波拏揭囉訶娑訶摩囉陀喃娜牟皤囉訶摩埿娜牟因陀囉耶娜牟婆伽嚩帝嚕陀囉耶烏摩鉢底娑醯夜耶娜牟婆伽筏帝那囉延拏耶半遮摩訶沒陀囉娜牟塞訖哩多耶娜牟婆伽筏帝摩訶迦囉耶底哩補囉那伽囉毘陀囉皤拏迦囉耶阿底目多迦尸摩舍那縛悉埿摩怛唎伽拏娜牟塞訖唎多耶娜牟婆伽筏帝怛他揭多俱囉耶娜牟鉢頭摩俱囉耶娜牟筏折囉俱囉耶娜牟摩尼俱囉耶娜牟伽闍俱囉耶娜牟婆伽筏帝地唎茶輸囉哂那鉢囉訶囉拏囉闍耶怛他揭多耶娜牟婆伽筏帝阿彌陀婆耶怛他揭多耶阿囉訶帝三藐三菩陀耶娜牟婆伽筏帝阿芻鞞也怛他揭多耶阿羅訶帝三藐三菩陀耶娜牟婆伽筏帝毘沙闍俱嚕吠琉璃唎耶鉢囉婆囉闍耶怛他揭多耶阿囉訶帝三藐三菩陀耶娜牟婆伽筏帝三布瑟畢多娑囉囉闍夜怛他揭多耶阿囉訶帝三藐三菩陀耶娜牟婆伽筏帝舍枳也母娜曳怛他揭多耶阿囉訶帝三藐三菩陀耶娜牟婆伽筏帝囉怛那俱蘇摩鷄都囉闍耶怛他揭多耶阿羅訶帝三藐三菩陀耶帝瓢娜牟塞訖哩多皤翳摩含婆伽筏多薩怛他揭都烏瑟尼衫悉怛多鉢怛㘕娜牟阿波囉支單鉢羅登擬囉薩嚩部多揭囉訶迦囉尼波囉微地也掣陀儞阿哥囉微哩駐波唎怛囉耶那揭唎薩嚩畔陀那𢛡乞叉那迦唎薩嚩突瑟吒突莎般那儞縛囉尼者都囉室底喃揭囉訶娑訶娑囉喃微陀防娑那羯哩阿瑟吒氷設底喃諾剎怛囉喃鉢囉娑陀那羯哩阿瑟吒喃摩訶揭囉訶喃微陀防薩那羯哩薩嚩舍都嚕儞嚩囉尼巨囉喃突室乏鉢那難遮那舍尼毘沙設薩怛囉阿祁尼烏陀迦囉尼阿波囉視多具囉摩訶跋囉戰拏摩訶提哆摩訶帝闍摩訶稅尾多什伐囉摩訶跋囉半茶囉嚩悉儞阿唎耶多囉毘哩俱知制嚩毘闍耶筏折囉摩禮底毘輸嚕多鉢踏罔迦跋折囉兒訶縛者摩囉制縛般囉室多跋折囉檀持毘舍羅摩遮扇多舍毘提嚩布室哆蘇摩嚕波摩訶稅尾多阿哩耶多羅摩訶跋囉阿波囉跋折囉商羯囉制婆怛他跋折囉俱摩唎迦俱㘕咃唎跋折囉訶薩哆者微地也乾遮那摩唎迦俱蘇婆喝囉怛囉怛那毘嚕遮耶那俱唎耶韜淡夜囉烏瑟尼沙毘折藍婆摩邏遮跋折囉迦那迦鉢囉婆咾遮那跋折囉敦尼遮稅尾多遮迦摩囉乞叉舍施鉢囉婆翳帝夷帝母陀囉尼揭拏娑吠囉乞懺俱囉飯都印㝹那麼麼那寫嗚吽牟哩瑟揭拏鉢囉舍薩多薩怛他揭都烏瑟尼沙呼吽咄嚕吽瞻婆那呼吽咄嚕吽薩耽婆那呼吽咄嚕吽婆囉微地也三婆乞叉那囉呼吽咄嚕吽薩婆部瑟吒喃塞曇婆那羯囉呼吽咄嚕吽薩嚩藥叉喝囉剎娑揭囉訶喃毘陀防娑那羯囉呼吽咄嚕吽者都羅尸底喃揭囉訶娑囉喃毘陀防娑那羯囉呼吽咄嚕吽阿瑟吒微摩舍帝喃那佉沙怛囉喃婆囉摩馱那伽囉呼吽咄嚕吽囉剎囉剎薄伽梵薩怛他揭都烏瑟尼沙鉢囉登擬哩摩訶薩訶薩囉部兒娑訶薩囉室囇俱胝舍多娑訶薩囉寧怛㘑阿弊地也什嚩哩多那吒迦摩訶跋折嚕陀囉帝哩菩嚩那曼茶囉嗚吽莎悉底薄婆都印㝹麼麼囉闍婆夜主囉婆夜阿祇尼婆夜烏陀迦婆夜吠沙婆夜舍薩多囉婆夜波囉斫羯囉婆夜突㗚叉婆夜阿舍儞婆夜阿迦囉沒㗚駐婆夜阿陀囉尼部彌劍波伽波哆婆夜烏囉囉迦波多婆夜囉闍彈茶婆夜那伽婆夜微地揄婆夜蘇跋㗚尼婆夜藥叉揭囉訶羅剎娑揭囉訶畢唎哆揭囉訶毘舍遮揭囉訶部多揭囉訶鳩槃茶揭囉訶布單那揭囉訶羯吒布單那揭囉訶塞揵陀揭囉訶阿婆娑摩囉揭囉訶烏檀摩陀揭囉訶車耶揭囉訶梨婆底揭囉訶闍底訶哩泥羯囉婆訶哩埿嚧地囉訶哩泥芒娑訶哩泥計陀訶哩泥摩闍訶哩泥闍多訶哩泥視吠哆訶哩泥婆多訶哩泥皤多訶哩喃阿輸遮訶哩泥質多訶哩泥帝衫薩毘衫薩嚩揭囉訶喃毘地也嗔陀夜彌枳囉夜彌波哩跋囉斫迦羅訖哩擔微地也嗔陀夜彌枳囉夜彌茶枳尼訖哩擔微地也嗔陀夜彌枳囉夜彌摩訶鉢輸鉢底夜嚕陀囉訖哩耽微地也嗔陀夜彌枳羅夜彌那囉耶拏耶訖哩耽微地也嗔陀夜彌枳囉夜彌怛怛嚩伽嚕茶訖哩耽微地也嗔陀夜彌枳羅夜彌摩訶迦羅摩怛囉伽拏訖哩耽微地也嗔陀夜彌枳羅夜彌迦波哩迦訖哩耽微地也嗔陀夜彌枳囉夜彌闍夜羯囉曼度羯囉薩婆囉他娑達儞訖哩耽微地也嗔陀夜彌枳囉夜彌者都㗚薄祁儞訖哩耽微地也嗔陀夜彌枳囉夜彌憑儀哩知難泥雞首婆囉伽那鉢底娑醯夜訖哩耽微地也嗔陀夜彌枳囉夜彌那延那室囉婆拏訖哩耽微地也嗔陀夜彌枳囉夜彌阿囉訶多訖哩耽微地也嗔陀夜彌枳囉夜彌微怛囉迦訖哩耽微地也嗔陀夜彌枳囉夜彌跋折囉波儞跋折囉婆尼具醯夜迦地鉢底訖哩耽微地也嗔陀夜彌枳羅夜彌囉叉囉叉罔薄伽梵印㝹那麼麼那寫婆伽梵薩怛他揭都烏瑟尼沙悉怛多鉢怛囉南無嗉都羝阿悉多那囉囉迦鉢囉婆毘薩普吒毘迦悉怛多鉢底哩什嚩囉什嚩囉陀囉陀囉頻陀囉頻陀囉嗔陀嗔陀含吽含吽泮泮泮泮吒泮吒莎皤訶醯醯泮阿牟伽耶泮阿鉢囉底訶多泮皤囉鉢囉陀泮阿素囉毘陀囉皤迦泮薩皤提吠弊泮薩皤那那伽弊泮薩皤藥叉弊泮薩皤乾闥婆弊泮薩皤阿素囉弊泮薩皤揭嚕茶弊泮薩皤緊那羅弊泮薩皤摩護囉伽弊泮薩皤囉剎莎弊泮薩皤摩努曬弊泮薩皤阿摩努曬弊泮薩皤布單那弊泮薩皤迦吒布丹那弊泮薩皤突蘭枳帝弊泮薩皤突瑟吒畢哩乞史帝弊泮薩皤什皤梨弊泮薩皤阿波薩麼嚟弊泮薩婆奢羅皤拏弊泮薩嚩底㗚耻雞弊泮薩菩怛波提弊泮薩皤微地也囉誓遮黎弊泮闍耶羯囉摩度羯囉薩婆囉他娑陀雞弊泮微地也遮唎曳弊泮者咄囉南薄祁儞弊泮跋折囉俱摩唎迦弊泮跋折囉俱藍陀利弊泮微地也囉闍弊泮摩訶鉢囉登耆囇弊泮跋折囉商羯囉夜泮鉢囉登祁囉囉闍耶泮摩訶揭囉耶泮摩訶摩怛哩伽拏耶泮娜牟塞揭哩多耶泮毘瑟拏尾曳泮皤囉𤙖摩尼曳泮阿祁尼曳泮摩訶迦哩曳泮迦囉檀持曳泮瞖泥哩曳泮遮文遲曳泮嘮怛哩曳泮迦囉怛哩曳泮迦波嚟曳泮阿地目抧多迦尸麼舍那皤悉儞曳泮曳髻者那薩怛薩怛皤突瑟吒質多澇持囉質多烏闍訶囉揭婆訶囉嘮地囉訶囉芒娑訶囉摩社訶囉社多訶囉視微多訶囉皤略耶訶囉健陀訶囉布瑟波訶囉破囉訶囉薩寫訶囉波波質多突瑟吒質多嘮陀羅質多陀囉質多藥叉揭囉訶囉剎娑揭囉訶閉囇多揭囉訶毘舍遮揭囉訶部多揭囉訶鳩槃茶揭囉訶塞健陀揭囉訶烏怛摩陀揭囉訶車夜揭囉訶阿波娑摩囉揭囉訶侘迦茶祁尼揭囉訶𠼝婆底揭囉訶闍弭迦揭囉訶舍俱尼揭囉訶漫怛囉難提迦揭囉訶阿藍皤揭囉訶訶奴建度波尼揭囉訶什皤囉翳迦醯迦德吠底迦帝哩帝藥迦折咄㗚他迦眤底夜什皤囉毘沙摩什皤囉皤底迦背底迦室禮瑟彌迦娑儞波底迦薩皤什皤囉室嚕喝囉底阿羅陀皤帝阿乞史嚧劍目佉嚧鉗羯唎突嚧鉗羯囉訶輸藍羯拏輸藍檀多輸藍頡哩馱耶輸藍末摩輸藍跋囉㗌婆輸藍背哩瑟吒輸藍烏馱囉輸藍羯知輸藍跛悉帝輸藍鄔嚧輸藍常伽輸藍喝薩多輸藍波陀輸藍頞伽鉢囉登輸藍部多吠怛茶茶枳尼什皤囉陀突盧建紐吉知婆路多吠薩囉波嚕訶凌伽輸沙多囉娑那迦囉毘沙喻迦阿祁尼烏陀迦摩囉吠囉建多囉阿迦囉蜜㗚駐怛囇部迦地哩囉吒毘失脂迦薩囉波那俱囉僧伽吠也揭囉怛乞叉怛囉乞叉末囉視皤帝衫薩毘衫薩毘衫悉怛多鉢怛囉摩訶跋折嚕瑟尼衫摩訶鉢囉登祁藍夜婆埵陀舍喻社那便怛囇拏毘地夜畔馱迦嚧彌帝殊畔陀迦嚧彌波囉微地也畔陀迦嚧彌怛地他唵阿那㘑毘舍提鞞囉跋折囉阿唎畔陀毘陀儞跋折囉波尼泮呼吽咄嚕吽莎皤訶唵吽毘嚕提莎皤訶

(truyền bản chú chép trong kinh văn Đại Chính tạng — khác một số chữ với truyền bản tụng phổ thông; bản phiên âm 427 câu của dịch giả tương ứng truyền bản khắc ở cuối quyển, xem khối cuối)

(thần chú — theo truyền thống không dịch nghĩa)

右此呪句總有四百三十九句。

Hữu thử chú cú tổng hữu tứ bách tam thập cửu cú.

(không có — ghi chú của tạng bản về số câu của truyền bản này)

ĐOẠN III - KHAI-THỊ XUẤT-SINH CHƯ PHẬT, HÀNG-PHỤC TÀ-MA, RỘNG BAN-ƠN CHO CHÚNG-SINH.

「阿難!是佛頂光聚悉怛多般怛羅祕密伽陀微妙章句,出生十方一切諸佛,十方如來因此呪心,得成無上正遍知覺。十方如來執此呪心,降伏諸魔、制諸外道。十方如來乘此呪心,坐寶蓮華應微塵國。十方如來含此呪心,於微塵國轉大法輪。十方如來持此呪心,能於十方摩頂授記;自果未成,亦於十方蒙佛授記。十方如來依此呪心,能於十方拔濟群苦。所謂地獄、餓鬼、畜生,盲聾瘖瘂,怨憎會苦、愛別離苦、求不得苦、五陰熾盛,大小諸橫同時解脫;賊難、兵難、王難、獄難、風水火難,飢渴貧窮,應念銷散。十方如來隨此呪心,能於十方事善知識,四威儀中供養如意;恒沙如來會中,推為大法王子。十方如來行此呪心,能於十方攝受親因,令諸小乘聞祕密藏不生驚怖。十方如來誦此呪心,成無上覺,坐菩提樹入大涅槃。十方如來傳此呪心,於滅度後,付佛法事究竟住持。嚴淨戒律,悉得清淨。

“A-nan! Thị Phật đỉnh quang tụ tất-đát-đa-bát-đát-la bí mật già đà vi diệu chương cú, xuất sinh thập phương nhất thiết chư Phật, thập phương Như-lai nhân thử chú tâm, đắc thành vô thượng chính biến tri giác. Thập phương Như-lai chấp thử chú tâm, hàng phục chư ma, chế chư ngoại đạo. Thập phương Như-lai thừa thử chú tâm, tọa bảo liên hoa ưng vi trần quốc. Thập phương Như-lai hàm thử chú tâm, ư vi trần quốc chuyển đại pháp luân. Thập phương Như-lai trì thử chú tâm, năng ư thập phương ma đỉnh thụ ký; tự quả vị thành, diệc ư thập phương mông Phật thụ ký. Thập phương Như-lai y thử chú tâm, năng ư thập phương bạt tế quần khổ. Sở vị địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, manh lung âm á, oán tăng hội khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ âm sí thịnh, đại tiểu chư hoạnh đồng thời giải thoát; tặc nan, binh nan, vương nan, ngục nan, phong thủy hỏa nan, cơ khát bần cùng, ưng niệm tiêu tán. Thập phương Như-lai tùy thử chú tâm, năng ư thập phương sự thiện tri thức, tứ uy nghi trung cúng dường như ý; hằng sa Như-lai hội trung, suy vi đại pháp vương tử. Thập phương Như-lai hành thử chú tâm, năng ư thập phương nhiếp thọ thân nhân, lệnh chư tiểu thừa văn bí mật tàng bất sinh kinh bố. Thập phương Như-lai tụng thử chú tâm, thành vô thượng giác, tọa Bồ-đề thụ nhập đại Niết-bàn. Thập phương Như-lai truyền thử chú tâm, ư diệt độ hậu, phó Phật pháp sự cứu cánh trụ trì. Nghiêm tịnh giới luật, tất đắc thanh tịnh.

"A-nan, những câu nhiệm-mầu, những kệ bí-mật "Tất-đát-đa-bát-đát-ra" của hóa-thân nơi hào-quang đỉnh-Phật, sinh ra tất-cả chư Phật thập phương. Thập phương Như-lai nhân chú-tâm nầy, thành được Vô-thượng-chính-biến-tri-giác. Thập phương Như-lai nắm chú-tâm nầy, uốn-dẹp các ma, chế-phục các ngoại-đạo. Thập phương Như-lai vận chú-tâm nầy, ngồi hoa sen báu, ứng-hiện trong các cõi-nước như số vi-trần. Thập phương Như-lai ngậm chú-tâm nầy, nơi cõi-nước như số vi-trần, xoay bánh xe Pháp lớn. Thập phương Như-lai giữ chú-tâm nầy, có thể nơi mười phương xoa đỉnh thụ-ký, tự mình quả-vị chưa thành, cũng có thể nơi mười phương nhờ chư Phật thụ-ký. Thập phương Như-lai nương chú-tâm nầy, có thể nơi mười phương cứu-vớt các khổ như địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sinh, đui, điếc, ngọng, câm; các khổ oán-tăng-hội, ái-biệt-ly, cầu-bất-đắc, ngũ-ấm-xí-thịnh; những tai-nạn lớn nhỏ đồng-thời được giải-thoát; nạn giặc, nạn binh, nạn vua, nạn ngục, nạn gió, lửa, nước, cho đến đói-khát bần-cùng, liền được tiêu-tan. Thập phương Như-lai theo chú-tâm nầy, có thể nơi mười phương, phụng-sự thiện-tri-thức, trong bốn uy-nghi, cúng-dường được như-ý; trong Pháp-hội hằng-sa Như-lai, được suy-tôn là vị Đại-pháp-vương-tử. Thập phương Như-lai dùng chú-tâm nầy, có thể nơi mười phương, nhiếp-thụ các nhân-thân, khiến cho các hàng Tiểu-thừa nghe tạng bí-mật, không sinh lòng kinh-sợ. Thập phương Như-lai tụng chú-tâm nầy, thành-đạo Vô-thượng-giác, ngồi dưới cây Bồ-đề, vào Đại-niết-bàn. Thập phương Như-lai truyền chú-tâm nầy, sau khi diệt-độ rồi, phó-chúc Pháp-sự của Phật, được trụ-trì rốt-ráo; giới-luật nghiêm-tịnh, thảy đều trong-sạch."

ĐOẠN IV - KHAI-THỊ CHÚ-TÂM, NÓI RỘNG KHÔNG HẾT

「若我說是佛頂光聚般怛羅呪,從旦至暮,音聲相連,字句中間亦不重疊,經恒沙劫終不能盡。亦說此呪,名如來頂。

“Nhược ngã thuyết thị Phật đỉnh quang tụ bát-đát-la chú, tùng đán chí mộ, âm thanh tướng liên, tự cú trung gian diệc bất trọng điệp, kinh hằng sa kiếp chung bất năng tận. Diệc thuyết thử chú, danh Như-lai đỉnh.

"Nếu tôi nói chú "Phật-đỉnh-quang-tụ bát-đát-ra" nầy, từ sáng đến tối, các tiếng nối nhau, trong đó những chữ, những câu cũng không trùng-điệp, trải qua kiếp-số như cát sông Hằng, rốt-cuộc không thể hết được. Chú nầy cũng gọi tên là Như-lai-đỉnh."

ĐOẠN V - KHAI-THỊ SỨC CỦA THẦN-CHÚ THÀNH-TỰU ĐƯỢC THẾ-GIAN VÀ XUẤT-THẾ-GIAN, THÊM TRÍ-TUỆ, TIÊU NGHIỆP-CHƯỚNG

汝等有學未盡輪迴,發心至誠取阿羅漢,不持此呪而坐道場,令其身心遠諸魔事,無有是處。

Nhữ đẳng hữu học vị tận luân hồi, phát tâm chí thành thủ A-la-hán, bất trì thử chú nhi tọa đạo tràng, lệnh kỳ thân tâm viễn chư ma sự, vô hữu thị xứ.

"Hàng hữu-học các ông chưa hết luân-hồi, phát-lòng chí-thành tu chứng quả A-la-hán, nếu không trì-chú nầy, khi ngồi đạo-trường, mà khiến thân tâm xa-rời được các ma-sự, thì không thể được.

「阿難!若諸世界,隨所國土所有眾生,隨國所生樺皮、貝葉、紙素、白疊,書寫此呪貯於香囊,是人心惛未能誦憶,或帶身上、或書宅中,當知是人,盡其生年,一切諸毒所不能害。

“A-nan! Nhược chư thế giới, tùy sở quốc độ sở hữu chúng sinh, tùy quốc sở sinh hoa bì, bối diệp, chỉ tố, bạch điệp, thư tả thử chú trữ ư hương nang, thị nhân tâm hôn vị năng tụng ức, hoặc đới thân thượng, hoặc thư trạch trung, đương tri thị nhân, tận kỳ sinh niên, nhất thiết chư độc sở bất năng hại.

A-nan, nếu trong các thế-giới, có những chúng-sinh, tùy cõi-nước mình sinh ra, nào vỏ cây hóa, nào lá cây bối, nào giấy trắng, nào bạch-diệp, dùng để viết-chép chú nầy, đựng trong túi thơm; nếu người đó tối-tăm chưa tụng, chưa nhớ được, mà hoặc đeo trên mình, hoặc viết trong nhà ở, thì nên biết người ấy, trọn đời tất-cả các thứ độc không thể hại được.

「阿難!我今為汝更說此呪,救護世間得大無畏,成就眾生出世間智。若我滅後,末世眾生,有能自誦,若教他誦,當知如是誦持眾生,火不能燒、水不能溺、大毒小毒所不能害,如是乃至龍天、鬼神、精祇、魔魅、所有惡呪皆不能著,心得正受。一切呪咀、魘蠱、毒藥、金毒、銀毒、草木蟲蛇萬物毒氣,入此人口成甘露味。一切惡星并諸鬼神,磣心毒人,於如是人不能起惡。毘那夜迦諸惡鬼王,并其眷屬皆領深恩,常加守護。

“A-nan! Ngã kim vi nhữ cánh thuyết thử chú, cứu hộ thế gian đắc đại vô úy, thành tựu chúng sinh xuất thế gian trí. Nhược ngã diệt hậu, mạt thế chúng sinh, hữu năng tự tụng, nhược giáo tha tụng, đương tri như thị tụng trì chúng sinh, hỏa bất năng thiêu, thủy bất năng nịch, đại độc tiểu độc sở bất năng hại, như thị nãi chí long thiên, quỷ thần, tinh kỳ, ma mị, sở hữu ác chú giai bất năng trước, tâm đắc chính thọ. Nhất thiết chú trớ, yểm cổ, độc dược, kim độc, ngân độc, thảo mộc trùng xà vạn vật độc khí, nhập thử nhân khẩu thành cam lộ vị. Nhất thiết ác tinh tinh chư quỷ thần, sẩm tâm độc nhân, ư như thị nhân bất năng khởi ác. Tỳ na Dạ-ca chư ác quỷ vương, tinh kỳ quyến thuộc giai lãnh thâm ân, thường gia thủ hộ.

A-nan, nay tôi vì ông tuyên lại chú nầy, cứu-giúp trong thế gian được đại-vô-úy và thành-tựu trí xuất-thế-gian cho chúng-sinh. Nếu sau khi tôi diệt-độ rồi; chúng-sinh trong đời mạt-pháp, có người biết tự mình tụng, hoặc dạy người khác tụng-chú nầy, nên biết những chúng-sinh trì-tụng như vậy, lửa không đốt được, nước không đắm được, độc lớn, độc nhỏ không thể hại được, cho đến các hàng thiên, long, quỷ, thần, tinh, kỳ, ma, mị, có những chú-dữ, đều không làm gì được. Tâm người ấy được chính-thụ; tất-cả chú-trớ, yểm-cổ, thuốc-độc, kim-độc, ngân-độc và độc-khí muôn vật như cỏ, cây, sâu, rắn, vào miệng người ấy đều thành vị cam-lộ. Tất-cả ác-tinh với các quỷ-thần, lòng dữ hại người, đối với người ấy, cũng không thể khởi ra ác-niệm; Tần-na, Dạ-ca và các quỷ-vương dữ khác, cùng với quyến-thuộc, đều lĩnh-ơn sâu, thường gìn-giữ ủng-hộ.

「阿難!當知是呪,常有八萬四千那由他恒河沙俱胝金剛藏王菩薩種族,一一皆有諸金剛眾而為眷屬,晝夜隨侍。設有眾生,於散亂心非三摩地,心憶口持,是金剛王常隨從彼諸善男子,何況決定菩提心者?此諸金剛菩薩藏王,精心陰速發彼神識,是人應時心能記憶八萬四千恒河沙劫,周遍了知得無疑惑。從第一劫乃至後身,生生不生藥叉、羅剎,及富單那、迦吒富單那、鳩槃茶、毘舍遮等,并諸餓鬼、有形無形、有想無想,如是惡處。是善男子若讀若誦、若書若寫、若帶若藏、諸色供養,劫劫不生貧窮下賤不可樂處。

“A-nan! Đương tri thị chú, thường hữu bát vạn tứ thiên na-do-tha hằng hà sa câu-chi kim cương tàng vương Bồ-tát chủng tộc, nhất nhất giai hữu chư kim cương chúng nhi vi quyến thuộc, trú dạ tùy thị. Thiết hữu chúng sinh, ư tán loạn tâm phi tam-ma địa, tâm ức khẩu trì, thị kim cương vương thường tùy tùng bỉ chư thiện nam tử, hà huống quyết định Bồ-đề tâm giả? Thử chư kim cương Bồ-tát tàng vương, tinh tâm âm tốc phát bỉ thần thức, thị nhân ưng thời tâm năng ký ức bát vạn tứ thiên hằng hà sa kiếp, chu biến liễu tri đắc vô nghi hoặc. Tùng đệ nhất kiếp nãi chí hậu thân, sinh sinh bất sinh dược-xoa, la-sát, cập phú-đan-na, ca-tra phú-đan-na, cưu-bàn-trà, tỳ-xá-già đẳng, tinh chư ngạ quỷ, hữu hình vô hình, hữu tưởng vô tưởng, như thị ác xứ. Thị thiện nam tử nhược độc nhược tụng, nhược thư nhược tả, nhược đới nhược tàng, chư sắc cúng dường, kiếp kiếp bất sinh bần cùng hạ tiện bất khả lạc xứ.

A-nan, nên biết chú nầy, thường có 84.000 na-do-tha hằng-hà-sa câu-chi chủng-tộc Kim-cương-tạng-vương Bồ-tát, mỗi mỗi đều có những chúng Kim-cương làm quyến-thuộc, ngày đêm theo hầu. Giả-sử có chúng-sinh, với tâm tán-loạn, chứ không phải Tam-ma-đề, tâm nhớ niệm-trì chú nầy; thì các Kim-cương-vương đó, cũng thường theo bên thiện-nam-tử kia, huống nữa, là những người có tâm Bồ-đề quyết-định; đối với những người nầy, các vị Kim-cương-tạng-vương Bồ-tát đó, dùng tịnh-tâm thầm xúc-tiến, phát-huy thần-thức; người ấy liền khi đó, tâm nhớ lại được 84.000 hằng-ha-sa kiếp, rõ-biết cùng khắp, được không nghi-hoặc. Từ kiếp thứ nhất cho đến thân cuối-cùng, đời đời người ấy không sinh vào các loài dược-xoa, la-sát, phú-đan-na, ca-tra-phú-đan-na, cưu-bàn-trà, tỳ-xá-già, vân vân..., cùng các loài ngạ-quỷ, có hình, không hình, có tưởng, không tưởng và những chỗ dữ như thế. Thiện-nam-tử đó, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc viết, hoặc chép, hoặc đeo, hoặc giữ, hoặc cúng-dường nhiều cách chú nầy, thì kiếp kiếp không sinh vào những nơi bần-cùng hạ-tiện, không thể ưa-thích.

此諸眾生,縱其自身不作福業,十方如來所有功德,悉與此人。由是得於恒河沙阿僧祇不可說不可說劫,常與諸佛同生一處。無量功德如惡叉聚,同處熏修永無分散。是故能令破戒之人戒根清淨,未得戒者令其得戒,未精進者令得精進,無智慧者令得智慧,不清淨者速得清淨,不持齋戒自成齋戒。「阿難!是善男子持此呪時,設犯禁戒於未受時,持呪之後,眾破戒罪無問輕重,一時銷滅。縱經飲酒、食噉五辛、種種不淨,一切諸佛、菩薩、金剛、天仙、鬼神,不將為過。設著不淨破弊衣服,一行一住,悉同清淨。縱不作壇、不入道場、亦不行道,誦持此呪,還同入壇行道功德。若造五逆無間重罪,及諸比丘、比丘尼、四棄八棄,誦此呪已,如是重業,猶如猛風吹散沙聚,悉皆滅除更無毫髮。「阿難!若有眾生,從無量無數劫來所有一切輕重罪障,從前世來未及懺悔;若能讀誦、書寫此呪,身上帶持,若安住處莊宅園館,如是積業猶湯銷雪,不久皆得悟無生忍。

Thử chư chúng sinh, túng kỳ tự thân bất tác phúc nghiệp, thập phương Như-lai sở hữu công đức, tất dữ thử nhân. Do thị đắc ư hằng hà sa a tăng-kỳ bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, thường dữ chư Phật đồng sinh nhất xứ. Vô lượng công đức như ác-xoa tụ, đồng xứ huân tu vĩnh vô phân tán. Thị cố năng lệnh phá giới chi nhân giới căn thanh tịnh, vị đắc giới giả lệnh kỳ đắc giới, vị tinh tiến giả lệnh đắc tinh tiến, vô trí tuệ giả lệnh đắc trí tuệ, bất thanh tịnh giả tốc đắc thanh tịnh, bất trì trai giới tự thành trai giới. “A-nan! Thị thiện nam tử trì thử chú thời, thiết phạm cấm giới ư vị thọ thời, trì chú chi hậu, chúng phá giới tội vô vấn khinh trọng, nhất thời tiêu diệt. Túng kinh ẩm tửu, thực đạm ngũ tân, chủng chủng bất tịnh, nhất thiết chư Phật, Bồ-tát, kim cương, thiên tiên, quỷ thần, bất tương vi quá. Thiết trước bất tịnh phá tệ y phục, nhất hành nhất trụ, tất đồng thanh tịnh. Túng bất tác đàn, bất nhập đạo tràng, diệc bất hành đạo, tụng trì thử chú, hoàn đồng nhập đàn hành đạo công đức. Nhược tạo ngũ nghịch vô gian trọng tội, cập chư tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, tứ khí bát khí, tụng thử chú dĩ, như thị trọng nghiệp, do như mãnh phong xuy tán sa tụ, tất giai diệt trừ cánh vô hào phát. “A-nan! Nhược hữu chúng sinh, tùng vô lượng vô số kiếp lai sở hữu nhất thiết khinh trọng tội chướng, tùng tiền thế lai vị cập sám hối; nhược năng độc tụng, thư tả thử chú, thân thượng đới trì, nhược an trụ xứ trang trạch viên quán, như thị tích nghiệp do thang tiêu tuyết, bất cửu giai đắc ngộ vô sinh nhẫn.

Các chúng-sinh đó, dù cho chính mình không làm việc phúc, thập phương Như-lai có các công-đức đều cho họ hết, do đó, họ được trong những kiếp hằng-sa vô-số, không thể nói, không thể nói hết, thường cùng chư Phật đồng sinh một chỗ; vô-lượng công-đức nhóm-lại như trái ác-xoa, đồng một chỗ huân-tu, hằng không phân-tán. Vậy nên, có thể khiến người phá giới, mà giới-căn cũng được thanh-tịnh; người chưa được giới, khiến cho được giới; người chưa tinh-tiến, khiến cho tinh-tiến; người không trí-tuệ, khiến được trí-tuệ; người không thanh-tịnh, mau được thanh-tịnh; người không giữ trai-giới, tự thành có trai-giới. A-nan, thiện-nam-tử ấy, khi trì-chú nầy, giả-sử có phạm cấm-giới khi chưa thụ-trì, thì sau khi trì-chú, các tội phá giới, không luận nặng nhẹ, một thời, đều tiêu-diệt, dù đã uống rượu, ăn thứ ngũ tân và các thứ không sạch, tất-cả chư Phật, Bồ-tát, Kim-cương, Thiên-tiên, Quỷ-thần không cho là có lỗi; dù mặc y-phục rách-nát không sạch, thì một cái đi, một cái đứng, thảy đồng như thanh-tịnh; dù không lập đàn, không vào đạo-trường, cũng không hành-đạo mà tụng-trì chú nầy, thì công-đức cũng như vào đàn, hành-đạo, không có khác vậy; dù gây những tội nặng ngũ-nghịch, vô-gián và phạm những tội tứ-khí, bát-khí của tỷ-khưu và tỷ-khưu-ni, thì khi tụng-chú nầy rồi, cũng như gió mạnh thổi-tan đống cát, những nghiệp nặng như vậy, đều diệt-trừ hết, không còn chút mảy-may. A-nan, nếu có chúng-sinh, từ vô-lượng vô-số kiếp đến nay, có tất-cả những tội-chướng nhẹ, nặng mà trong các đời trước, chưa kịp sám-hối, nếu biết đọc, tụng, viết, chép chú nầy, giữ đeo trên thân mình hay để nơi chỗ ở, như trang, trạch, viên, quán, thì những nghiệp chứa-nhóm từ trước như vậy, đều tiêu-tan như nước sôi tiêu tuyết, chẳng bao lâu, đều ngộ được vô-sinh-nhẫn.

ĐOẠN VI - KHAI-THỊ TRÌ-CHÚ THÌ ĐƯỢC MÃN-NGUYỆN VÀ ĐƯỢC SINH VÀO NƠI TỐT

「復次,阿難!若有女人未生男女,欲求生者,若能至心憶念斯呪,或能身上帶此悉怛多鉢怛羅者,便生福德智慧男女。求長命者速得長命;欲求果報速圓滿者,速得圓滿。身、命、色、力,亦復如是。命終之後,隨願往生十方國土。必定不生邊地下賤,何況雜形?

“Phục thứ, A-nan! Nhược hữu nữ nhân vị sinh nam nữ, dục cầu sinh giả, nhược năng chí tâm ức niệm tư chú, hoặc năng thân thượng đới thử tất-đát-đa-bát-đát-la giả, tiện sinh phúc đức trí tuệ nam nữ. Cầu trưởng mệnh giả tốc đắc trưởng mệnh; dục cầu quả báo tốc viên mãn giả, tốc đắc viên mãn. Thân, mệnh, sắc, lực, diệc phục như thị. Mệnh chung chi hậu, tùy nguyện vãng sinh thập phương quốc độ. Tất định bất sinh biên địa hạ tiện, hà huống tạp hình?

"Lại nữa, A-nan, nếu có người đàn-bà chưa sinh con trai, con gái, mong-cầu có thai, mà biết chí-tâm nhớ niệm-chú, hoặc ở trên mình đeo chú Tất-đát-đa-bát-đát-ra nầy, thì liền sinh những con trai, con gái có phúc-đức trí-tuệ; người cầu sống lâu, thì được sống lâu, người cầu quả-báo mau được viên-mãn, thì mau được viên-mãn, cho đến về thân-mệnh, sắc-lực, thì cũng được viên-mãn như vậy; sau khi mệnh-chung, tùy nguyện được vãng-sinh trong thập phương quốc-độ, chắc-chắn không sinh nơi biên-địa hạ-tiện, huống nữa là các tạp-hình.

ĐOẠN VII - KHAI-THỊ SỨC CHÚ CÓ THỂ TIÊU QUỐC-NẠN, DÂN-TAI

「阿難!若諸國土州縣、聚落,饑荒、疫癘,或復刀兵賊難鬪諍,兼餘一切厄難之地,寫此神呪,安城四門,并諸支提、或脫闍上,令其國土所有眾生奉迎斯呪,禮拜恭敬一心供養,令其人民各各身佩,或各各安所居宅地,一切災厄悉皆銷滅。「阿難!在在處處國土眾生,隨有此呪,天龍歡喜,風雨順時,五穀豐殷,兆庶安樂。亦復能鎮一切惡星,隨方變怪,災障不起,人無橫夭。杻械、枷鎖不著其身,晝夜安眠常無惡夢。「阿難!是娑婆界有八萬四千災變惡星,二十八大惡星而為上首。復有八大惡星以為其主,作種種形出現世時,能生眾生種種災異;有此呪地,悉皆銷滅。十二由旬成結界地,諸惡災祥,永不能入。

“A-nan! Nhược chư quốc độ châu huyện, tụ lạc, cơ hoang, dịch lệ, hoặc phục đao binh tặc nan đấu tránh, kiêm dư nhất thiết ách nan chi địa, tả thử thần chú, an thành tứ môn, tinh chư chi đề, hoặc thoát xà thượng, lệnh kỳ quốc độ sở hữu chúng sinh phụng nghênh tư chú, lễ bái cung kính nhất tâm cúng dường, lệnh kỳ nhân dân các các thân bội, hoặc các các an sở cư trạch địa, nhất thiết tai ách tất giai tiêu diệt. “A-nan! Tại tại xứ xứ quốc độ chúng sinh, tùy hữu thử chú, thiên long hoan hỷ, phong vũ thuận thời, ngũ cốc phong ân, triệu thứ an lạc. Diệc phục năng trấn nhất thiết ác tinh, tùy phương biến quái, tai chướng bất khởi, nhân vô hoạnh yểu. Nữu giới, gia tỏa bất trước kỳ thân, trú dạ an miên thường vô ác mộng. “A-nan! Thị Ta-bà giới hữu bát vạn tứ thiên tai biến ác tinh, nhị thập bát đại ác tinh nhi vi thượng thủ. Phục hữu bát đại ác tinh dĩ vi kỳ chủ, tác chủng chủng hình xuất hiện thế thời, năng sinh chúng sinh chủng chủng tai dị; hữu thử chú địa, tất giai tiêu diệt. Thập nhị do tuần thành kết giới địa, chư ác tai tường, vĩnh bất năng nhập.

"A-nan, nếu các cõi-nước, các châu, các huyện, các làng-xóm bị nạn đói-kém, dịch-lệ, hoặc ở những nơi có đao-binh, tặc-nạn, đánh nhau, cãi nhau và tất-cả những nơi có ách-nạn khác, viết thần-chú nầy, để trên bốn cửa thành, cùng các tháp hay trên các thoát-xà và khiến chúng-sinh hiện có trong cõi-nước, kính-rước chú nầy, lễ-bái cung-kính nhất-tâm cúng-dường, khiến trong nhân-dân, mỗi mỗi người đeo chú trong mình, hoặc để nơi chỗ ở, thì tất-cả tai-ách thảy đều tiêu-diệt. A-nan, chúng-sinh trong cõi-nước, chỗ nào, chỗ nào có được chú nầy, thì thiên-long vui-mừng, mưa-gió thuận-thời, ngũ-cốc được mùa, dân-chúng an-vui; lại có thể trấn được tất-cả ác-tinh, nó tùy nơi, biến ra những điều quái-dị; tai-chướng không khởi lên, người không hoạnh-tử, chết-yểu, gông-cùm, xiềng-xích không dính vào mình, ngày đêm ngủ yên, thường không ác-mộng. A-nan, cõi Sa-bà nầy có 84.000 ác-tinh tai-biến, 28 đại-ác-tinh làm thượng-thủ, lại có 8 đại-ác-tinh làm chủ, xuất-hiện trên đời với nhiều hình-trạng, có thể sinh ra các tai-nạn dị-kỳ cho chúng-sinh; chỗ nào có chú này, thì tất-cả đều tiêu-diệt, lấy 12 do-tuần làm vòng kết-giới, các tai-biến hung-dữ, hẳn không thể vào được.

ĐOẠN VIII - BẢO-HỘ HÀNG SƠ-TÂM RỜI MA-CHƯỚNG, CHÓNG KHAI-NGỘ

「是故如來宣示此呪,於未來世,保護初學諸修行者入三摩提。身心泰然,得大安隱。更無一切諸魔鬼神,及無始來冤橫宿殃,舊業陳債,來相惱害。汝及眾中諸有學人,及未來世諸修行者,依我壇場如法持戒,所受戒主逢清淨僧,持此呪心不生疑悔。是善男子,於此父母所生之身,不得心通;十方如來便為妄語。」

“Thị cố Như-lai tuyên thị thử chú, ư vị lai thế, bảo hộ sơ học chư tu hành giả nhập tam-ma-đề. Thân tâm thái nhiên, đắc đại an ẩn. Cánh vô nhất thiết chư ma quỷ thần, cập vô thủy lai oan hoạnh túc ương, cựu nghiệp trần trái, lai tướng não hại. Nhữ cập chúng trung chư hữu học nhân, cập vị lai thế chư tu hành giả, y ngã đàn tràng như pháp trì giới, sở thọ giới chủ phùng thanh tịnh tăng, trì thử chú tâm bất sinh nghi hối. Thị thiện nam tử, ư thử phụ mẫu sở sinh chi thân, bất đắc tâm thông; thập phương Như-lai tiện vi vọng ngữ.”

"Vậy nên Như-lai tuyên-dạy chú nầy, bảo-hộ cho những người tu-hành sơ-học, trong đời vị-lai, vào Tam-ma-đề, thân tâm thư-thái, được đại-an-ẩn, không còn tất-cả các ma, quỷ-thần, và những oan-khiên đời trước, nghiệp cũ, nợ xưa, từ vô-thủy tới nay, đến khuấy-hại nhau. Ông với những người hữu-học trong chúng và những kẻ tu-hành đời vị-lai, y như lời-dạy của tôi mà lập đàn-trường, đúng theo pháp mà trì-giới, gặp được tăng-chúng thanh-tịnh chủ-trì việc thụ-giới, đối với chú-tâm nầy, không sinh lòng nghi-hối; những thiện-nam-tử như thế, chính nơi cái thân cha mẹ sinh ra, mà không được tâm-thông, thì thập phương Như-lai bèn là vọng-ngữ".

ĐOẠN IX - KIM-CƯƠNG THIỆN-THẦN TRONG HỘI PHÁT-NGUYỆN BẢO-HỘ RỘNG-RÃI

說是語已,會中無量百千金剛,一時佛前合掌頂禮,而白佛言:「如佛所說,我當誠心保護如是修菩提者。」

Thuyết thị ngữ dĩ, hội trung vô lượng bách thiên kim cương, nhất thời Phật tiền hợp chưởng đỉnh lễ, nhi bạch Phật ngôn: “Như Phật sở thuyết, ngã đương thành tâm bảo hộ như thị tu Bồ-đề giả.”

Phật dạy lời ấy rồi, vô-lượng trăm ngàn Kim-cương trong Hội, một thời đứng trước Phật, chấp tay đỉnh-lễ mà bạch Phật rằng: "Như lời Phật dạy, chúng tôi phải thành tâm bảo-hộ những người tu-đạo Bồ-đề như vậy".

爾時梵王并天帝釋、四天大王,亦於佛前同時頂禮,而白佛言:「審有如是修學善人,我當盡心至誠保護,令其一生所作如願。」

Nhĩ thời phạn vương tinh thiên đế thích, tứ thiên đại vương, diệc ư Phật tiền đồng thời đỉnh lễ, nhi bạch Phật ngôn: “Thẩm hữu như thị tu học thiện nhân, ngã đương tận tâm chí thành bảo hộ, lệnh kỳ nhất sinh sở tác như nguyện.”

Khi bấy giờ, Phạm-vương và Thiên-đế-thích, Tứ-thiên đại-vương cũng ở trước Phật, đồng-thời đỉnh-lễ mà bạch Phật rằng: "Xét có người lành tu-học như vậy, chúng tôi phải hết lòng chí-thành bảo-hộ, khiến cho trong một đời, tu-hành được như nguyện".

復有無量藥叉大將、諸羅剎王、富單那王、鳩槃茶王、毘舍遮王、頻那夜迦諸大鬼王,及諸鬼帥,亦於佛前合掌頂禮:「我亦誓願護持是人,令菩提心速得圓滿。」復有無量日月天子、風師、雨師、雲師、雷師,并電伯等,年歲巡官、諸星眷屬,亦於會中頂禮佛足,而白佛言:「我亦保護是修行人,安立道場得無所畏。」

Phục hữu vô lượng dược-xoa đại tương, chư la-sát vương, phú-đan-na vương, cưu-bàn-trà vương, tỳ-xá-già vương, Tần-na Dạ-ca chư đại quỷ vương, cập chư quỷ soái, diệc ư Phật tiền hợp chưởng đỉnh lễ: “Ngã diệc thệ nguyện hộ trì thị nhân, lệnh Bồ-đề tâm tốc đắc viên mãn.” Phục hữu vô lượng nhật nguyệt thiên tử, phong sư, vũ sư, vân sư, lôi sư, tinh điện bá đẳng, niên tuế tuần quan, chư tinh quyến thuộc, diệc ư hội trung đỉnh lễ Phật túc, nhi bạch Phật ngôn: “Ngã diệc bảo hộ thị tu hành nhân, an lập đạo tràng đắc vô sở úy.”

Lại có, vô-lượng Đại-tướng-dược-xoa, các vua La-sát, vua Phú-đan-na, vua Cưu-bàn-trà, vua Tỳ-xá-già, các Đại-quỷ-vương như Tần-na, Dạ-ca, và các Quỷ-xoái, cũng ở trước Phật, chất tay đỉnh-lễ mà bạch Phật rằng: "Chúng tôi cũng thệ-nguyện hộ-trì cho người đó, khiến cho tâm Bồ-đề mau được viên-mãn". Lại có, không lường Nhật, Nguyệt thiên-tử, Phong-sư, Vũ-sư, Vân-sư, Lôi-sư cùng với Điện-bá và các Niên-tuế-tuần-quan, chư tinh và quyến-thuộc, vân vân..., cùng ở trong Hội, đỉnh-lễ chân Phật mà bạch Phật rằng: "Chúng tôi bảo-hộ người tu-hành ấy, lập ra đạo-trường, được không e-sợ".

復有無量山神、海神、一切土地水、陸、空行萬物精祇,并風神王、無色界天,於如來前,同時稽首而白佛言:「我亦保護是修行人得成菩提,永無魔事。」

Phục hữu vô lượng sơn thần, hải thần, nhất thiết thổ địa thủy, lục, không hành vạn vật tinh kỳ, tinh phong thần vương, vô sắc giới thiên, ư Như-lai tiền, đồng thời khể thủ nhi bạch Phật ngôn: “Ngã diệc bảo hộ thị tu hành nhân đắc thành Bồ-đề, vĩnh vô ma sự.”

Lại có, vô-lượng Sơn-thần, Hải-thần, tất-cả tinh-kỳ, đất-đai muôn vật, thủy, lục, không, hành, với Phong-thần-vương và Chư-thiên Vô-sắc-giới, ở trước Như-lai, đồng-thời cúi đầu bạch Phật rằng: "Chúng tôi cũng bảo-hộ người tu-hành ấy, được thành Bồ-đề, hẳn không ma-sự".

爾時八萬四千那由他恒河沙俱胝金剛藏王菩薩,在大會中即從座起,頂禮佛足而白佛言:「世尊!如我等輩所修功業,久成菩提不取涅槃,常隨此呪,救護末世修三摩提正修行者。世尊!如是修心求正定人,若在道場及餘經行,乃至散心遊戲聚落,我等徒眾常當隨從侍衛此人。縱令魔王大自在天,求其方便終不可得。諸小鬼神,去此善人十由旬外,除彼發心樂修禪者。世尊!如是惡魔、若魔眷屬,欲來侵擾是善人者,我以寶杵殞碎其首,猶如微塵。恒令此人,所作如願。」

Nhĩ thời bát vạn tứ thiên na-do-tha hằng hà sa câu-chi kim cương tàng vương Bồ-tát, tại đại hội trung tức tùng tòa khởi, đỉnh lễ Phật túc nhi bạch Phật ngôn: “Thế-tôn! Như ngã đẳng bối sở tu công nghiệp, cửu thành Bồ-đề bất thủ Niết-bàn, thường tùy thử chú, cứu hộ mạt thế tu tam-ma-đề chính tu hành giả. Thế-tôn! Như thị tu tâm cầu chính định nhân, nhược tại đạo tràng cập dư kinh hành, nãi chí tán tâm du hí tụ lạc, ngã đẳng đồ chúng thường đương tùy tùng thị vệ thử nhân. Túng lệnh ma vương đại tự tại thiên, cầu kỳ phương tiện chung bất khả đắc. Chư tiểu quỷ thần, khứ thử thiện nhân thập do tuần ngoại, trừ bỉ phát tâm lạc tu thiền giả. Thế-tôn! Như thị ác ma, nhược ma quyến thuộc, dục lai xâm nhiễu thị thiện nhân giả, ngã dĩ bảo xử vẫn toái kỳ thủ, do như vi trần. Hằng lệnh thử nhân, sở tác như nguyện.”

Khi bấy giờ, 84.000 na-do-tha hằng-hà-sa Câu-chi Kim-cương-tạng-vương Bồ-tát, ở trong đại Hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh-lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: "Thế-tôn, như bọn chúng tôi, công-nghiệp tu-hành, đã thành đạo Bồ-đề lâu rồi, mà không nhận-lấy Niết-bàn, thường theo chú nầy, cứu-giúp những người chân-chính tu-hành pháp Tam-ma-đề trong đời mạt-pháp. Bạch Thế-tôn, những người tu-tâm vào chính định như thế, dù ở đạo-trường, hay là những lúc kinh-hành, cho đến khi tán-tâm đi chơi trong làng-xóm, đồ-chúng chúng tôi thường phải đi theo thị-vệ người ấy, dù cho Ma-vương, Đại-tự-tại-thiên muốn được phương-tiện khuấy-phá, cũng không thể được; các quỷ-thần nhỏ, phải cách xa người lành ấy, ngoài 10 do-tuần, trừ khi, họ phát-tâm thích người tu-thiền. Bạch Thế-tôn, những ác-ma như thế, hay quyến-thuộc của ma, muốn đến xâm-lấn khuấy-phá người lành ấy, chúng tôi dùng bảo-xứ đập-nát cái đầu như vi-trần, thường khiến cho người ấy tu-hành được như nguyện."

MỤC VI - KHAI-THỊ NHỮNG VỊ-TRÍ TU-CHỨNG TRƯỚC SAU

ĐOẠN I - ÔNG A-NAN XIN KHAI-THỊ VỀ NHỮNG DANH-MỤC THỨ-BẬC TU-HÀNH

阿難即從座起,頂禮佛足而白佛言:「我輩愚鈍,好為多聞,於諸漏心,未求出離;蒙佛慈誨,得正熏修,身心快然,獲大饒益。世尊!如是修證佛三摩提,未到涅槃,云何名為乾慧之地?四十四心至何漸次、得修行目?詣何方所,名入地中?云何名為等覺菩薩?」作是語已,五體投地,大眾一心,佇佛慈音,瞪矒瞻仰。

A-nan tức tùng tòa khởi, đỉnh lễ Phật túc nhi bạch Phật ngôn: “Ngã bối ngu độn, hiếu vi đa văn, ư chư lậu tâm, vị cầu xuất ly; mông Phật từ hối, đắc chính huân tu, thân tâm khoái nhiên, hoạch đại nhiêu ích. Thế-tôn! Như thị tu chứng Phật tam-ma-đề, vị đáo Niết-bàn, vân hà danh vi can tuệ chi địa? Tứ thập tứ tâm chí hà tiệm thứ, đắc tu hành mục? Nghệ hà phương sở, danh nhập địa trung? Vân hà danh vi đẳng giác Bồ-tát?” Tác thị ngữ dĩ, ngũ thể đầu địa, đại chúng nhất tâm, trữ Phật từ âm, trừng mông chiêm ngưỡng.

Ông A-nan, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đỉnh-lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: "Chúng tôi ngu-độn, ưa tuệ đa-văn, đối với các tâm hữu-lậu, chưa cầu thoát-ly, nhờ Phật từ-bi dạy-bảo được lối huân-tu chân-chính, thân tâm khoan-khoái, được lợi-ích lớn. Bạch Thế-tôn, những người tu-chứng pháp Tam-ma-đề của Phật như thế, chưa đến Niết-bàn, thì thế nào gọi là Can-tuệ-địa, trong 44 tâm, đến thứ-bậc nào, mới được danh-mục tu-hành, đến phương-sở nào, mới gọi là nhập-địa, thế nào, gọi là Đảng-giác Bồ-tát?" Nói lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, trong đại-chúng đều nhất-tâm, chăm-chỉ mong-đợi từ-âm của Phật. ---o0o---

ĐOẠN II - KHEN-NGỢI VÀ HỨA SẼ CHỈ TRƯỚC CHO

爾時,世尊讚阿難言:「善哉!善哉!汝等乃能普為大眾,及諸末世一切眾生修三摩提求大乘者,從於凡夫,終大涅槃,懸示無上正修行路。汝今諦聽!當為汝說。」

Nhĩ thời, Thế-tôn tán A-nan ngôn: “Thiện tai! Thiện tai! Nhữ đẳng nãi năng phổ vi đại chúng, cập chư mạt thế nhất thiết chúng sinh tu tam-ma-đề cầu đại thừa giả, tùng ư phàm phu, chung đại Niết-bàn, huyền thị vô thượng chính tu hành lộ. Nhữ kim đế thính! Đương vi nhữ thuyết.”

Khi bấy giờ, đức Thế-tôn khen ông A-nan rằng: "Hay thay! Hay thay! Các ông lại biết, vì cả đại-chúng và hết thảy chúng-sinh tu Tam-ma-đề, cầu pháp Đại-thừa trong đời mạt-pháp, xin tôi chỉ trước đường tu-hành vô-thượng chân-chính từ phàm-phu đến Đại-niết-bàn; nay ông hãy nghe cho chín, tôi sẽ vì ông mà nói".

阿難、大眾,合掌、刳心,默然受教。

A-nan, đại chúng, hợp chưởng, khô tâm, mặc nhiên thọ giáo.

Ông A-nan và đại-chúng chấp tay sạch lòng, yên-lặng thụ-giáo.

ĐOẠN III - KHAI-THỊ HAI CÁI NHÂN ĐIÊN-ĐẢO

佛言:「阿難當知!妙性圓明離諸名相,本來無有世界、眾生。因妄有生,因生有滅,生滅名妄,滅妄名真;是稱如來無上菩提及大涅槃二轉依號。

Phật ngôn: “A-nan đương tri! Diệu tính viên minh ly chư danh tướng, bản lai vô hữu thế giới, chúng sinh. Nhân vọng hữu sinh, nhân sinh hữu diệt, sinh diệt danh vọng, diệt vọng danh chân; thị xưng Như-lai vô thượng Bồ-đề cập đại Niết-bàn nhị chuyển y hiệu.

Phật dạy: "A-nan, nên biết diệu-tính là viên-minh, rời các danh-tướng, bản-lai không có thế-giới chúng-sinh. Nhân cái vọng mà có sinh, nhân cái sinh mà có diệt, sinh-diệt gọi là vọng, diệt vọng gọi là chân, ấy gọi là hai hiệu chuyển-y vô-thượng Bồ-đề và Đại-niết-bàn của Như-lai.

「阿難!汝今欲修真三摩地,直詣如來大涅槃者,先當識此眾生、世界二顛倒因。顛倒不生,斯則如來真三摩地。

“A-nan! Nhữ kim dục tu chân tam-ma địa, trực nghệ Như-lai đại Niết-bàn giả, tiên đương thức thử chúng sinh, thế giới nhị điên đảo nhân. Điên đảo bất sinh, tư tắc Như-lai chân tam-ma địa.

A-nan, nay ông muốn tu pháp Chân-tam-ma-đề, đến thẳng Đại-niết-bàn của Như-lai, trước hết, phải biết hai cái nhân điên-đảo của thế-giới và chúng-sinh nầy; điên-đảo không sinh, đó là Chân-tam-ma-đề của Như-lai.

「阿難!云何名為眾生顛倒?阿難!由性明心,性明圓故,因明發性,性妄見生,從畢竟無成究竟有。此有所有,非因所因;住所住相,了無根本。本此無住,建立世界及諸眾生。

“A-nan! Vân hà danh vi chúng sinh điên đảo? A-nan! Do tính minh tâm, tính minh viên cố, nhân minh phát tính, tính vọng kiến sinh, tùng tất cánh vô thành cứu cánh hữu. Thử hữu sở hữu, phi nhân sở nhân; trụ sở trụ tướng, liễu vô căn bản. Bản thử vô trụ, kiến lập thế giới cập chư chúng sinh.

A-nan, thế nào gọi là điên-đảo về chúng-sinh? Do cái tâm bản-tính là minh và tính-minh ấy viên-mãn cùng khắp, nên nhân tính-minh phát ra hình-như có tính; mà vọng-kiến nhận là có tính sinh ra, từ chỗ rốt-ráo là không, lại thành rốt-ráo là có. Có cái sở-hữu như thế, là do phi-nhân làm nhân và những tướng năng-trụ, sở-trụ rốt-ráo không có cỗi-gốc. Rồi gốc nơi cái vô-trụ đó, mà kiến-lập ra thế-giới và các chúng-sinh.

迷本圓明,是生虛妄,妄性無體,非有所依。將欲復真,欲真已非真真如性;非真求復,宛成非相。非生、非住,非心、非法,展轉發生,生力發明。熏以成業,同業相感,因有感業,相滅、相生,由是故有眾生顛倒。

Mê bản viên minh, thị sinh hư vọng, vọng tính vô thể, phi hữu sở y. Tương dục phục chân, dục chân dĩ phi chân chân như tính; phi chân cầu phục, uyển thành phi tướng. Phi sinh, phi trụ, phi tâm, phi pháp, triển chuyển phát sinh, sinh lực phát minh. Huân dĩ thành nghiệp, đồng nghiệp tướng cảm, nhân hữu cảm nghiệp, tướng diệt, tướng sinh, do thị cố hữu chúng sinh điên đảo.

Vì mê, không nhận được tính viên-minh sẵn có, nên sinh ra hư-vọng, tính hư-vọng không có tự-thể, không phải thật có chỗ nương-đứng. Hầu muốn trở lại chân-tính, thì cái muốn chân đó, đã không phải là tính chân-như chân-thật. Cầu trở lại không đúng chân-lý, thì hiện-thành ra những phi-tướng: không phải sinh gọi rằng sinh, không phải trụ gọi rằng trụ, không phải tâm gọi rằng tâm, không phải pháp gọi rằng pháp. Xoay-vần phát-sinh và sinh-lực phát-huy, huân-tập thành ra nghiệp-báo; đồng-nghiệp thì cảm với nhau, nhân đó, lại cảm ra các nghiệp diệt nhau, sinh nhau, do đó, mới có điên-đảo về chúng-sinh.

「阿難!云何名為世界顛倒?是有所有,分段妄生,因此界立。非因所因,無住所住,遷流不住,因此世成。三世、四方和合相涉,變化眾生成十二類。是故世界,因動有聲,因聲有色,因色有香,因香有觸,因觸有味,因味知法。六亂妄想成業性故,十二區分由此輪轉。是故世間聲、香、味、觸,窮十二變為一旋復。

“A-nan! Vân hà danh vi thế giới điên đảo? Thị hữu sở hữu, phân đoạn vọng sinh, nhân thử giới lập. Phi nhân sở nhân, vô trụ sở trụ, thiên lưu bất trụ, nhân thử thế thành. Tam thế, tứ phương hòa hợp tướng thiệp, biến hóa chúng sinh thành thập nhị loại. Thị cố thế giới, nhân động hữu thanh, nhân thanh hữu sắc, nhân sắc hữu hương, nhân hương hữu xúc, nhân xúc hữu vị, nhân vị tri pháp. Lục loạn vọng tưởng thành nghiệp tính cố, thập nhị khu phân do thử luân chuyển. Thị cố thế gian thanh, hương, vị, xúc, cùng thập nhị biến vi nhất toàn phục.

A-nan, thế nào gọi là điên-đảo về thế-giới? Do có cái sở-hữu đó, nên từng phần, từng đoạn giả-dối sinh ra, vì thế, mà không-gian thành-lập; do phi-nhân làm nhân, không có năng-trụ, sở-trụ, nên dời-đổi mãi, không có năng-trụ, sở-trụ, nên dời-đổi mãi, không an-trụ, vì thế, mà thời-gian thành-lập. Ba đời bốn phương, hòa-hợp can-thiệp cùng nhau, chúng-sinh biến-hóa thành 12 loài. Vậy nên trong thế-giới, nhân động có tiếng, nhân tiếng có sắc, nhân sắc có hương, nhân hương có xúc, nhân xúc có vị, nhân vị biết pháp, sáu vọng-tưởng càn-loạn thành ra nghiệp-tính, do đó, 12 cách đối-hiện xoay-vần mãi mãi. Vậy nên trong thế-gian, những thanh, hương, vị, xúc biến-đổi cùng-tột, đến 12 lần xoay trở lại.

乘此輪轉顛倒相故,是有世界——卵生、胎生、濕生、化生,有色、無色,有想、無想,若非有色、若非無色,若非有想、若非無想。

Thừa thử luân chuyển điên đảo tướng cố, thị hữu thế giới——noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, nhược phi hữu sắc, nhược phi vô sắc, nhược phi hữu tưởng, nhược phi vô tưởng.

Dựa trên những tướng điên-đảo, xoay-vần đó, nên trong thế-giới có những loài noãn-sinh, thai-sinh, thấp-sinh, hóa-sinh, hữu-sắc, vô-sắc, hữu-tưởng, vô-tưởng, hoặc phi-hữu-sắc, hoặc phi-vô-sắc, hoặc phi-hữu-tưởng, hoặc phi-vô-tưởng.

「阿難!由因世界虛妄輪迴,動顛倒故,和合氣成八萬四千飛沈亂想;如是故有卵羯邏藍,流轉國土,魚、鳥、龜、蛇、其類充塞。

“A-nan! Do nhân thế giới hư vọng luân hồi, động điên đảo cố, hòa hợp khí thành bát vạn tứ thiên phi trầm loạn tưởng; như thị cố hữu noãn yết-la-lam, lưu chuyển quốc độ, ngư, điểu, quy, xà, kỳ loại sung tắc.

A-nan, nhân trong thế-giới có hư-vọng luân-hồi, điên-đảo về động, nên hòa-hợp với khí, thành ra 84.000 loạn-tưởng bay-lặn, vì vậy, nên có mầm-trứng trôi-lăn trong cõi-nước; cá, chim, rùa, rắn, các loài đầy-nhẩy.

「由因世界雜染輪迴,欲顛倒故,和合滋成八萬四千橫竪亂想;如是故有胎遏蒱曇,流轉國土,人、畜、龍、仙、其類充塞。

“Do nhân thế giới tạp nhiễm luân hồi, dục điên đảo cố, hòa hợp tư thành bát vạn tứ thiên hoành thụ loạn tưởng; như thị cố hữu thai át-bồ-đàm, lưu chuyển quốc độ, nhân, súc, long, tiên, kỳ loại sung tắc.

Nhân trong thế-giới có tạp-nhiễm luân-hồi, điên-đảo về dục, nên hòa-hợp với tư, thành ra 84.000 loạn-tưởng ngang dọc; vì vậy, nên có bọc-thai trôi-lăn trong cõi-nước; người, súc, rồng, tiên, các loài đầy-nhẩy.

「由因世界執著輪迴,趣顛倒故,和合煖成八萬四千飜覆亂想;如是故有濕相蔽尸,流轉國土,含蠢、蠕動、其類充塞。

“Do nhân thế giới chấp trước luân hồi, thú điên đảo cố, hòa hợp noãn thành bát vạn tứ thiên phiên phúc loạn tưởng; như thị cố hữu thấp tướng tế-thi, lưu chuyển quốc độ, hàm xuẩn, nhu động, kỳ loại sung tắc.

Nhân trong thế-giới có chấp-trước luân hồi, điên-đảo về thú, nên hòa-hợp với noãn, thành ra 84.000 loạn-tưởng nghiêng-ngửa vì vậy, nên có tế-thi thấp-sinh trôi-lăn trong cõi-nước; nhung-nhúc, quậy-động, các loài đầy-nhẩy.

「由因世界變易輪迴,假顛倒故,和合觸成八萬四千新故亂想;如是故有化相羯南,流轉國土,轉蛻、飛行、其類充塞。

“Do nhân thế giới biến dịch luân hồi, giả điên đảo cố, hòa hợp xúc thành bát vạn tứ thiên tân cố loạn tưởng; như thị cố hữu hóa tướng yết-nam, lưu chuyển quốc độ, chuyển thuế, phi hành, kỳ loại sung tắc.

Nhân trong thế-giới có biến-dịch luân-hồi, điên-đảo về giả, nên hòa-hợp với xúc, thành ra 84.000 loạn-tưởng mới cũ; vì vậy, nên có yết-nam hóa-sinh trôi-lăn trong cõi-nước; chuyển-thoái, phi-hành, các loài đầy-nhẩy.

「由因世界留礙輪迴,障顛倒故,和合著成八萬四千精耀亂想;如是故有色相羯南,流轉國土,休咎、精明、其類充塞。

“Do nhân thế giới lưu ngại luân hồi, chướng điên đảo cố, hòa hợp trước thành bát vạn tứ thiên tinh diệu loạn tưởng; như thị cố hữu sắc tướng yết-nam, lưu chuyển quốc độ, hưu cữu, tinh minh, kỳ loại sung tắc.

Nhân trong thế-giới có lưu-ngại luân-hồi, điên-đảo về chướng, nên hòa-hợp với trước, thành ra 84.000 loạn-tưởng tinh-diệu; vì vậy, nên có yết-nam sắc-tướng trôi-lăn trong cõi-nước; hưu-cửu, tinh-minh, các loài đầy-nhẩy. Nhân trong thế-giới có tiêu-tán luân-hồi, điên-đảo về hoặc, nên hòa-hợp với ám, thành ra 84.000 loạn-tưởng thầm-ẩn, vì vậy, nên có yết-nam vô-sắc trôi-lăn trong cõi nước; không tán tiêu trầm, các loại đầy-nhẩy.

「由因世界銷散輪迴,惑顛倒故,和合暗成八萬四千陰隱亂想;如是故有無色羯南,流轉國土,空散、銷沈、其類充塞。

“Do nhân thế giới tiêu tán luân hồi, hoặc điên đảo cố, hòa hợp ám thành bát vạn tứ thiên âm ẩn loạn tưởng; như thị cố hữu vô sắc yết-nam, lưu chuyển quốc độ, không tán, tiêu trầm, kỳ loại sung tắc.

(đoạn này thiếu trong ebook nguồn — bản dịch gốc có, cần bổ sung từ bản in)

「由因世界罔象輪迴,影顛倒故,和合憶成八萬四千潛結亂想;如是故有想相羯南,流轉國土,神鬼、精靈、其類充塞。

“Do nhân thế giới võng tượng luân hồi, ảnh điên đảo cố, hòa hợp ức thành bát vạn tứ thiên tiềm kết loạn tưởng; như thị cố hữu tưởng tướng yết-nam, lưu chuyển quốc độ, thần quỷ, tinh linh, kỳ loại sung tắc.

Nhân trong thế-giới có võng-tượng luân-hồi, điên-đảo về ảnh, nên hòa-hợp với ức, thành ra 84.000 loạn-tưởng tiềm-kết; vì vậy, nên có yết-nam hữu-tưởng trôi-lăn trong cõi-nước; thần-quỷ tinh-linh, các loài đầy-nhẩy.

「由因世界愚鈍輪迴,癡顛倒故,和合頑成八萬四千枯槁亂想;如是故有無想羯南,流轉國土,精神化為土木金石、其類充塞。

“Do nhân thế giới ngu độn luân hồi, si điên đảo cố, hòa hợp ngoan thành bát vạn tứ thiên khô cảo loạn tưởng; như thị cố hữu vô tưởng yết-nam, lưu chuyển quốc độ, tinh thần hóa vi thổ mộc kim thạch, kỳ loại sung tắc.

Nhân trong thế-giới có ngu-độn luân-hồi, điên-đảo về si, nên hòa-hợp với ngoan, thành ra 84.000 loạn-tưởng khô-cảo; vì vậy, nên có yết-nam vô-tưởng trôi-lăn trong cõi-nước; tinh-thần hóa làm đất, cây, vàng, đá, các loài đầy-nhẩy.

「由因世界相待輪迴,偽顛倒故,和合染成八萬四千因依亂想;如是故有非有色相成色羯南,流轉國土,諸水母等以蝦為目,其類充塞。

“Do nhân thế giới tướng đãi luân hồi, ngụy điên đảo cố, hòa hợp nhiễm thành bát vạn tứ thiên nhân y loạn tưởng; như thị cố hữu phi hữu sắc tướng thành sắc yết-nam, lưu chuyển quốc độ, chư thủy mẫu đẳng dĩ hà vi mục, kỳ loại sung tắc.

Nhân trong thế-giới có tương-đãi luân-hồi, điên-đảo về ngụy, nên hòa-hợp với nhiễm, thành ra 84.000 loạn-tưởng nhân-y; vì vậy, nên có yết-nam, không phải có sắc mà có sắc, trôi-lăn trong cõi-nước; những giống thủy-mẫu, dùng tôm làm mắt, các loài đầy-nhẩy.

「由因世界相引輪迴,性顛倒故,和合呪成八萬四千呼召亂想;由是故有非無色相無色羯南,流轉國土,呪咀厭生、其類充塞。

“Do nhân thế giới tướng dẫn luân hồi, tính điên đảo cố, hòa hợp chú thành bát vạn tứ thiên hô triệu loạn tưởng; do thị cố hữu phi vô sắc tướng vô sắc yết-nam, lưu chuyển quốc độ, chú trớ yếm sinh, kỳ loại sung tắc.

Nhân trong thế-giới có tương-đẫn luân-hồi, điên-đảo về tính, nên hòa-hợp với chú, thành ra 84.000 loạn-tưởng hô-triệu; vì vậy, nên có yết-nam, không phải vô-sắc mà vô-sắc, trôi-lăn trong cõi-nước, chú-trớ, yếm-sinh, các loài đầy-nhẩy.

「由因世界合妄輪迴,罔顛倒故,和合異成八萬四千迴互亂想;如是故有非有想相成想羯南,流轉國土,彼蒱盧等異質相成,其類充塞。

“Do nhân thế giới hợp vọng luân hồi, võng điên đảo cố, hòa hợp dị thành bát vạn tứ thiên hồi hỗ loạn tưởng; như thị cố hữu phi hữu tưởng tướng thành tưởng yết-nam, lưu chuyển quốc độ, bỉ bồ lô đẳng dị chất tướng thành, kỳ loại sung tắc.

Nhân trong thế-giới có hợp-vọng luân-hồi, điên-đảo về võng, nên hòa-hợp với dị, thành ra 84.000 loạn-tưởng hồi-hỗ; vì vậy, nên có yết-nam, không phải có tưởng mà có tưởng, trôi-lăn trong cõi-nước; những giống tò-vò, mượn chất khác thành cái thân của mình, các loài đầy-nhẩy.

「由因世界怨害輪迴,殺顛倒故,和合怪成八萬四千食父母想;如是故有非無想相無想羯南,流轉國土,如土梟等附塊為兒,及破鏡鳥以毒樹果抱為其子,子成,父母皆遭其食,其類充塞。

“Do nhân thế giới oán hại luân hồi, sát điên đảo cố, hòa hợp quái thành bát vạn tứ thiên thực phụ mẫu tưởng; như thị cố hữu phi vô tưởng tướng vô tưởng yết-nam, lưu chuyển quốc độ, như thổ kiêu đẳng phụ khối vi nhi, cập phá kính điểu dĩ độc thụ quả bão vi kỳ tử, tử thành, phụ mẫu giai tao kỳ thực, kỳ loại sung tắc.

Nhân trong thế-giới có oán-hại luân-hồi, điên-đảo về sát, nên hòa-hợp với quái, thành ra 84.000 tư-tưởng ăn thịt cha-mẹ; vì vậy, nên có yết-nam, không phải vô-tưởng mà vô-tưởng, trôi-lăn trong cõi-nước; như con thổ-kiêu, ấp khối đất làm con, và chim phá-kính; ấp quả cây-độc làm con, con lớn lên, thì cha mẹ đều bị chúng ăn thịt, các loài đầy-nhẩy.

是名眾生十二種類。」

Thị danh chúng sinh thập nhị chủng loại.”

Ấy gọi là mười hai chủng-loại chúng-sinh.

大佛頂萬行首楞嚴經卷第七

Đại Phật đỉnh vạn hạnh Thủ-lăng-nghiêm kinh quyển đệ thất

(Hết Quyển Bảy)

南無薩怛他蘇伽多耶阿羅訶帝三藐三菩陀寫薩怛他佛陀俱胝瑟尼釤南無薩婆勃陀勃地薩跢鞞弊南無薩多南三藐三菩陀俱知南娑舍囉婆迦僧伽喃南無盧雞阿羅漢跢喃南無蘇盧多波那喃南無娑羯唎陀伽彌喃南無盧雞三藐伽跢喃三藐伽波囉底波多那喃南無提婆離瑟𧹞南無悉陀耶毘地耶陀囉離瑟𧹞舍波奴揭囉訶娑訶娑囉摩他喃南無跋囉訶摩泥南無因陀囉耶南無婆伽婆帝嚧陀囉耶烏摩般帝娑醯夜耶南無婆伽婆帝那囉野拏耶槃遮摩訶三慕陀囉南無悉羯唎多耶南無婆伽婆帝摩訶迦羅耶地唎般剌那伽囉毘陀囉波拏迦囉耶阿地目帝尸摩舍那泥婆悉泥摩怛唎伽拏南無悉羯唎多耶南無婆伽婆帝多他伽跢俱囉耶南無般頭摩俱囉耶南無跋闍羅俱囉耶南無摩尼俱囉耶南無伽闍俱囉耶南無婆伽婆帝帝唎茶輸囉西那波囉訶囉拏囉闍耶跢他伽多耶南無婆伽婆帝南無阿彌多婆耶跢他伽多耶阿囉訶帝三藐三菩陀耶南無婆伽婆帝阿芻鞞耶跢他伽多耶阿囉訶帝三藐三菩陀耶南無婆伽婆帝鞞沙闍耶俱盧吠柱唎耶般囉婆囉闍耶跢他伽多耶南無婆伽婆帝三補師毖多薩憐捺囉剌闍耶跢他伽多耶阿囉訶帝三藐三菩陀耶南無婆伽婆帝舍雞野母那曳跢他伽多耶阿囉訶帝三藐三菩陀耶南無婆伽婆帝剌怛那雞都囉闍耶跢他伽多耶阿囉訶帝三藐三菩陀耶帝瓢南無薩羯唎多翳曇婆伽婆多薩怛他伽都瑟尼釤薩怛多般怛㘕南無阿婆囉視躭般囉帝揚岐囉薩囉婆部多揭囉訶尼羯囉訶揭迦囉訶尼跋囉毖地耶叱陀儞阿迦囉蜜唎柱般唎怛囉耶儜揭唎薩囉婆槃陀那目叉尼薩囉婆突瑟吒突悉乏般那儞伐囉尼赭都囉失帝南羯囉訶娑訶薩囉若闍毘多崩娑那羯唎阿瑟吒氷舍帝南那叉剎怛囉若闍波囉薩陀那羯唎阿瑟吒南摩訶揭囉訶若闍毘多崩薩那羯唎薩婆舍都嚧儞婆囉若闍呼藍突悉乏難遮那舍尼毖沙舍悉怛囉阿吉尼烏陀迦囉若闍阿般囉視多具囉摩訶般囉戰持摩訶疊多摩訶帝闍摩訶稅多闍婆囉摩訶跋囉槃陀囉婆悉儞阿唎耶多囉毘唎俱知誓婆毘闍耶跋闍囉摩禮底毘舍嚧多勃騰罔迦跋闍囉制喝那阿遮摩囉制婆般囉質多跋闍囉擅持毘舍囉遮扇多舍鞞提婆補視多蘇摩嚧波摩訶稅多阿唎耶多囉摩訶婆囉阿般囉跋闍囉啇羯囉制婆跋闍囉俱摩唎俱藍陀唎跋闍囉喝薩多遮毘地耶乾遮那摩唎迦啒蘇母婆羯囉跢那鞞嚧遮那俱唎耶夜囉菟瑟尼釤毘折藍婆摩尼遮跋闍囉迦那迦波囉婆嚧闍那跋闍囉頓稚遮稅多遮迦摩囉剎奢尸波囉婆翳帝夷帝母陀囉羯拏娑鞞囉懺掘梵都印兔那麼麼寫烏𤙖唎瑟揭拏般剌舍悉多薩怛他伽都瑟尼釤虎汼都嚧雍瞻婆那虎𤙖都嚧雍悉耽婆那虎𤙖都嚧雍波羅瑟地耶三般叉拏羯囉虎𤙖都嚧雍薩婆藥叉喝囉剎娑揭囉訶若闍毘騰崩薩那羯囉虎𤙖都嚧雍者都囉尸底南揭囉訶娑訶薩囉南毘騰崩薩那囉虎𤙖都嚧雍囉叉婆伽梵薩怛他伽都瑟尼釤波囉點闍吉唎摩訶娑訶薩囉勃樹娑訶薩囉室唎沙俱知娑訶薩泥帝㘑阿弊提視婆唎多吒吒甖迦摩訶跋闍嚧陀囉帝唎菩婆那曼茶囉烏𤙖莎悉帝薄婆都麼麼印兔那麼麼寫囉闍婆夜主囉跋夜阿祇尼婆夜烏陀迦婆夜毘沙婆夜舍薩多囉婆夜婆囉斫羯囉婆夜突瑟叉婆夜阿舍儞婆夜阿迦囉蜜唎柱婆夜陀囉尼部彌劍波伽波陀婆夜烏囉迦婆多婆夜剌闍壇茶婆夜那伽婆夜毘條怛婆夜蘇波囉拏婆夜藥叉揭囉訶囉叉私揭囉訶畢唎多揭囉訶毘舍遮揭囉訶部多揭囉訶鳩槃茶揭囉訶補丹那揭囉訶迦吒補丹那揭囉訶悉乾度揭囉訶阿播悉摩囉揭囉訶烏檀摩陀揭囉訶車夜揭囉訶醯唎婆帝揭囉訶社多訶唎南揭婆訶唎南嚧地囉訶唎南忙娑訶唎南謎陀訶唎南摩闍訶唎南闍多訶唎女視比多訶唎南毘多訶唎南婆多訶唎南阿輸遮訶唎女質多訶唎女帝釤薩鞞釤薩婆揭囉訶南毘陀耶闍瞋陀夜彌雞囉夜彌波唎跋囉者迦訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌茶演尼訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌摩訶般輸般怛夜嚧陀囉訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌那囉夜拏訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌怛埵伽嚧茶西訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌摩訶迦囉摩怛唎伽拏訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌迦波唎迦訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌闍耶羯囉摩度羯囉薩婆囉他娑達那訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌赭咄囉婆耆儞訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌毘唎羊訖唎知難陀雞沙囉伽拏般帝索醯夜訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌那揭那舍囉婆拏訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌阿羅漢訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌毘多囉伽訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌跋闍囉波儞具醯夜具醯夜迦地般帝訖唎擔毘陀夜闍瞋陀夜彌雞囉夜彌囉叉罔婆伽梵印兔那麼麼寫婆伽梵薩怛多般怛囉南無粹都帝阿悉多那囉剌迦波囉婆悉普吒毘迦薩怛多鉢帝唎什佛囉什佛囉陀囉陀囉頻陀囉頻陀囉瞋陀瞋陀虎𤙖虎𤙖泮吒泮吒泮吒泮吒泮吒娑訶醯醯泮阿牟迦耶泮阿波囉提訶多泮婆囉波囉陀泮阿素囉毘陀囉波迦泮薩婆提鞞弊泮薩婆那伽弊泮薩婆藥叉弊泮薩婆乾闥婆弊泮薩婆補丹那弊泮迦吒補丹那弊泮薩婆突狼枳帝弊泮薩婆突澁比𠼐訖瑟帝弊泮薩婆什婆唎弊泮薩婆阿播悉摩𠼐弊泮薩婆舍囉婆拏弊泮薩婆地帝雞弊泮薩婆怛摩陀繼弊泮薩婆毘陀耶囉誓遮𠼐弊泮闍夜羯囉摩度羯囉薩婆羅他娑陀雞弊泮毘地夜遮唎弊泮者都囉縛耆儞弊泮跋闍囉俱摩唎毘陀夜囉誓弊泮摩訶波囉丁羊乂耆唎弊泮跋闍囉商羯囉夜波囉丈耆囉闍耶泮摩訶迦囉夜摩訶末怛唎迦拏南無娑羯唎多夜泮毖瑟拏婢曳泮勃囉訶牟尼曳泮阿耆尼曳泮摩訶羯唎曳泮羯囉檀遲曳泮蔑怛唎曳泮嘮怛唎曳泮遮文茶曳泮羯邏囉怛唎曳泮迦般唎曳泮阿地目質多迦尸摩舍那婆私儞曳泮演吉質薩埵婆寫麼麼印兔那麼麼寫突瑟吒質多阿末怛唎質多烏闍訶囉伽婆訶囉嚧地囉訶囉婆娑訶囉摩闍訶囉闍多訶囉視毖多訶囉跋略夜訶囉乾陀訶囉布史波訶囉頗囉訶囉婆寫訶囉般波質多突瑟吒質多嘮陀囉質多藥叉揭囉訶囉剎娑揭囉訶閉㘑多揭囉訶毘舍遮揭囉訶部多揭囉訶鳩槃茶揭囉訶悉乾陀揭囉訶烏怛摩陀揭囉訶車夜揭囉訶阿播薩摩囉揭囉訶宅袪革茶耆尼揭囉訶唎佛帝揭囉訶闍彌迦揭囉訶舍俱尼揭囉訶姥陀囉難地迦揭囉訶阿藍婆揭囉訶乾度波尼揭囉訶什伐囉堙迦醯迦墜帝藥迦怛隷帝藥迦者突託迦昵提什伐囉毖釤摩什伐囉薄底迦鼻底迦室隷瑟蜜迦娑儞般帝迦薩婆什伐囉室嚧吉帝末陀鞞達嚧制劍阿綺嚧鉗目佉嚧鉗羯唎突嚧鉗揭囉訶輸藍羯拏輸藍憚多輸藍迄唎夜輸藍末麼輸藍跋唎室婆輸藍毖栗瑟吒輸藍烏陀囉輸藍羯知輸藍跋悉帝輸藍鄔嚧輸藍常伽輸藍喝悉多輸藍跋陀輸藍娑房盎伽般囉丈伽輸藍部多毖跢茶茶耆尼什婆囉陀突嚧迦建咄嚧吉知婆路多毘薩般嚧訶凌伽輸沙怛囉娑那羯囉毘沙喻迦阿耆尼烏陀迦末囉鞞囉建跢囉阿迦囉蜜唎咄怛斂部迦地栗剌吒毖唎瑟質迦薩婆那俱囉肆引伽弊揭囉唎藥叉怛囉芻末囉視吠帝釤娑鞞釤悉怛多鉢怛囉摩訶跋闍嚧瑟尼釤摩訶般賴丈耆藍夜波突陀舍喻闍那辮怛隷拏毘陀耶槃曇迦嚧彌帝殊槃曇迦嚧彌般囉毘陀槃曇迦嚧彌跢姪他唵阿那隷毘舍提鞞囉跋闍囉陀唎槃陀槃陀儞跋闍囉謗尼泮虎𤙖都嚧甕泮莎婆訶

1.- Na mô tát dát tha tô già đa gia a la ha đế tam diểu tam bồ đà tả. 2.- Tát đát tha Phật đà câu chi sắt ni sam. 3.- Na mô tát bà bột đà bột địa tát đá bệ tệ. 4.- Na mô tát đa nẫm tam diểu tam bồ đà câu chi nẫm. 5.- Sa xá ra bà ca tăng già nẫm. 6.- Na mô lô kê a la hán đá nẫm. 7.- Na mô tô lô đa ba na nẫm. 8.- Na mô sa yết rị đà già di nẫm. 9.- Na mô lô kê tam diểu già đá nẫm. 10.- Tam diểu già ba ra để ba đa na nẫm. 11.- Na mô đề bà ly sắt xiển. 12.- Na mô tất đà gia tỳ địa gia đà ra ly sắt xiển. 13.- Xá ba nô yết ra ha sa ha sa ra ma tha nẫm. 14.- Na mô bạt ra ha ma nê. 15.- Na mô nhân đà ra gia. 16.- Na mô bà già bà đế. 17.- Rô đà ra gia. 18.- Ô ma bát đế. 19.- Sa hê dạ gia. 20.- Na mô bà già bà đế. 21.- Na ra dã noa gia. 22.- Bàn giá ma ha tam mộ đà ra. 23.- Na mô tất yết rị đa gia. 24.- Na mô bà già bà đế. 25.- Ma ha ca ra gia. 26.- Địa rị bát lạt na già ra. 27.- Tỳ đà ra ba noa ca ra gia. 28.- A địa mục đế. 29.- Thi ma xá na nê bà tất nê. 30.- Ma đát rị già noa. 31.- Na mô tất yết rị đa gia. 32.- Na mô bà già bà đế. 33.- Đa tha già đá câu ra gia. 34.- Na mô bát đầu ma câu ra gia. 35.- Na mô bạt xà la câu ra gia. 36.- Na mô ma ni câu ra gia. 37.- Na mô già xà câu ra gia. 38.- Na mô bà già bà đế. 39.- Đế rị trà thâu ra tây na. 40.- Ba ra ha ra noa ra xà gia. 41.- Đá tha già đa gia. 42.- Na mô bà già bà đế. 43.- Na mô a di đa bà gia. 44.- Đá tha già đa gia. 45.- A ra ha đế. 46.- Tam diểu tam bồ đà gia. 47.- Na mô bà già bà đế. 48.- A sô bệ gia. 49.- Đá tha già đa gia. 50.- A ra ha đế. 51.- Tam diểu tam bồ đà gia. 52.- Na mô bà già bà đế. 53.- Bệ sa xà gia câu rô phệ trụ rị gia. 54.- Bát ra bà ra xà gia. 55.- Đá tha già đa gia. 56.- Na mô bà già bà đế. 57.- Tam bổ sư bí đa. 58.- Tát lân nại ra lạt xà gia. 59.- Đá tha già đa gia. 60.- A ra ha đế. 61.- Tam diểu tam bồ đà gia. 62.- Na mô bà già bà đế. 63.- Xá kê dã mẫu na duệ. 64.- Đá tha già đa gia. 65.- A ra ha đế. 66.- Tam diểu tam bồ đà gia. 67.- Na mô bà già bà đế. 68.- Lạt đá na kê đô ra xà gia. 69.- Đá tha già đa gia. 70.- A ra ha đế. 71.- Tam diểu tam bồ đà gia. 72.- Đế biều na mô tát yết rị đa. 73.- Ế đàm bà già bà đa. 74.- Tát đát tha già đô sắt ni sam. 75.- Tát đát đa bát đát lam. 76.- Na mô a bà ra thị đam. 77.- Bát ra đế dương kỳ ra. 78.- Tát ra bà bộ đa yết ra ha. 79.- Ni yết ra ha yết ca ra ha ni. 80.- Bạt ra bí địa gia sất đà nễ. 81.- A ca ra mật rị trụ. 82. Bát rị đát ra gia nãnh yết rị. 83.- Tát ra bà bàn đà na mục xoa ni. 84.- Tát ra bà đột sắt tra. 85.- Đột tất phạp bát na nễ phạt ra ni. 86.- Giả đô ra thất đế nẫm. 87.- Yết ra ha sa ha tát ra nhã xà. 88.- Tỳ đa băng sa na yết rị. 89.- A sắt cha băng xa đế nẫm. 90.- Na xoa sát đát ra nhã xà. 91.- Ba ra tát đà na yết rị. 92.- A sắt cha nẫm. 93.- Ma ha yết ra ha nhã xà. 94.- Tỳ đa băng tát na yết rị. 95.- Tát bà xá đô rô nễ bà ra nhã xà. 96.- Hô lam đột tất phạp nan giá na xá ni. 97.- Bí sa xá tất đát ra. 98.- A cát ni ô đà ca ra nhã xà. 99.- A bát ra thị đa cụ ra. 100.- Ma ha bát ra chiến trì. 101.- Ma ha điệp đa. 102.- Ma ha đế xà. 103.- Ma ha thuế đa xà bà ra. 104.- Ma ha bạt ra bàn đà ra bà tất nễ. 105.- A rị gia đa ra. 106.- Tỳ rị câu chi. 107.- Thệ bà tỳ xà gia. 108.- Bạt xà ra ma lễ đễ. 109.- Tỳ xá rô đa. 110.- Bột đằng dõng ca. 111.- Bạt xà ra chế hát na a giá. 112.- Ma ra chế bà bát ra chất đa. 113.- Bạt xà ra thiện trì. 114.- Tỳ xá ra giá. 115.- Phiến đa xá bệ đề bà bổ thị đa. 116.- Tô ma rô ba. 117.- Ma ha thuế đa. 118.- A ri gia đa ra. 119.- Ma ha bà ra a bát ra. 120.- Bạt xà ra thương yết ra chế bà. 121.- Bạt xà ra câu ma rị. 122.- Câu lam đà rị. 123.- Bạt xà ra hát tát đa giá. 124.- Tỳ địa gia kiền giá na ma rị ca. 125.- Hốt tô mẫu bà yết ra đá na. 126.- Bệ rô giá na câu rị gia. 127.- Dạ ra thỏ sắt ni sam. 128.- Tỳ chiết lam bà ma ni giá. 129.- Bạt xà ra ca na ca ba ra bà. 130.- Rô xà na bạt xà ra đốn trĩ giá. 131.- Thế đa giá ca ma ra. 132.- Sát xa thi ba ra bà. 133.- Ế đế di đế. 134.- Mẫu đà ra yết noa. 135.- Sa bệ ra sám. 136.- Quật phạm đô. 137.- Ấn thỏ na mạ mạ tả. 138.- Ô huân. 139.- Rị sắt yết noa. 140.- Bát lạt xá tất đa. 141.- Tát đát tha già đô sắt ni sam. 142.- Hổ luân. 143.- Đô rô úng. 144.- Chiêm bà na. 145.- Hổ huân. 146.- Đô rô úng. 147.- Tất đam bà na. 148.- Hổ huân. 149.- Đô rô úng. 150.- Ba ra sắt địa gia tam bát xoa noa yết ra. 151.- Hổ huân. 152.- Đô rô úng. 153.- Tát bà dược xoa hát ra sát sa. 154.- Yết ra ha nhã xà 155.- Tỳ đằng băng tát na yết ra. 156.- Hổ huân. 157.- Đô rô úng. 158.- Giả đô ra thi để nẫm. 159.- Yết ra ha sa ha tát ra nẫm. 160.- Tỳ đằng băng tát na ra. 161.- Hổ huân. 162.- Đô rô úng. 163.- Ra xoa. 164.- Bà già phạm. 165.- Tát đát tha già đô sắt ni sam. 166.- Ba ra điểm xà cát rị. 167.- Ma ha sa ha cát ra 168.- Bột thụ sa ha tát ra thất rị sa. 169.- Câu chi sa ha tát nê đế lệ. 170.- A tệ đề thị bà rị đa. 171.- Cha cha anh ca. 172.- Ma ha bạt xà rô đà ra. 173.- Đế rị, bồ bà na. 174.- Mạn trà ra. 175.- Ô huân. 176.- Sa tất đế bạc bà đô. 177.- Mạ mạ. 178.- Ấn thỏ na mạ mạ tả. 179.- ra xà bà dạ. 180.- Chủ ra bạt dạ. 181.- A kỳ ni bà dạ. 182.- Ô đà ca bà dạ. 183.- Tỳ sa bà dạ. 184.- Xá tát đa ra bà dạ. 185.- Bà ra chước yết ra bà dạ. 186.- Đột sắt noa bà dạ. 187.- A xá nễ bà dạ. 188.- A ca ra mật rị trụ bà dạ. 189.- Đà ra ni bộ di kiếm ba già ba đà bà dạ 190.- Ô ca ra bà đa bà dạ. 191.- Lạt xà đàn trà bà dạ. 192.- Na già bà dạ. 193.- Tỳ điều đát bà dạ. 194.- Tô ba ra noa bà dạ. 195.- Dược xoa yết ra ha. 196.- Ra xoa tư yết ra ha. 197.- Tất rị đa yết ra ha 198.- Tỳ xá giá yết ra ha. 199.- Bộ đa yết ra ha. 200.- Cưu bàn trà yết ra ha. 201.- Bổ đan na yết ra ha. 202.- Ca cha bổ đan na yết ra ha. 203.- Tất kiền độ yết ra ha. 204.- A bá tất ma ra yết ra ha. 205.- Ô đàn ma đà yết ra ha. 206.- Sa dạ yết ra ha. 207.- Hê rị bà đế yết ra ha. 208.- Xã đa ha rị nẫm. 209.- Yết bà ha rị nẫm. 210.- Rô địa ra ha rị nẫm. 211.- Mang sa ha rị nẫm. 212.- Mế đà ha rị nẫm. 213.- Ma xà ha rị nẫm. 214.- Xà đa ha rị nữ. 215.- Thị tỷ đa ha rị nẫm. 216.- Tỳ đa ha rị nẫm. 217.- Bà đa ha rị nẫm. 218.- A thâu giá ha rị nữ. 219.- Chất đa ha rị nữ. 220.- Đế sam tát bệ sam. 221.- Tát bà yết ra ha nẫm. 222.- Tỳ đà da xà sân đà dạ di. 223.- Kê ra dạ di. 224.- Ba rị bạt ra giả ca hất rị đảm. 225.- Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di. 226.- Kê ra dạ di. 227.- Trà diễn ni hất rị đảm. 228.- Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di. 229.- Kê ra dạ di. 230.- Ma ha bát thâu bát đát dạ. 231.- Rô đà ra hất rị đảm. 232.- Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di. 233.- Kê ra dạ di. 234.- Na ra dạ noa hất rị đảm. 235.- Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di. 236.- Kê ra dạ di. 237.- Đát đỏa già rô trà tây hất rị đảm. 238.- Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di. 239.- Kê ra dạ di. 240.- Ma ha ca ra ma đát rị già noa hất rị đảm. 241.- Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di. 242.- Kê ra dạ di. 243.- Ca ba rị ca hất rị đảm. 244.- Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di. 245.- Kê ra dạ di. 246.- Xà gia yết ra ma độ yết ra. 247.- Tát bà ra tha sa đạt na hất rị đảm. 248.- Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di. 249.- Kê ra dạ di. 250.- Giả đốt ra bà kỳ nễ hất rị đảm. 251.- Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di. 252.- Kê ra dạ di. 253.- Tỳ rị dương hất rị tri. 254.- Nan đà kê sa ra già noa bát đế. 255.- Sách hê dạ hất rị đảm. 256.- Tỳ đà dạ xà sân đà dạ ri. 257.- Kê ra dạ di. 258.- Na yết na xá ra bà noa hất rị đảm. 259.- Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di. 260.- Kê ra dạ di. 261.- A la hán hất rị đảm tỳ đà dạ xà sân đà dạ di. 262.- Kê ra dạ di. 263.- Tỳ đa ra già hất rị đảm. 264.- Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di. 265.- Kê ra dạ di bạt xà ra ba nễ. 266.- Cụ hê dạ cụ hê dạ. 267.- Ca địa bát đế hất rị đảm. 268.- Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di. 269.- Kê ra dạ di. 270.- Ra xoa võng. 271.- Bà già phạm. 272.- Ấn thỏ na mạ mạ tả. 273.- Bà già phạm. 274.- Tát đát đa bát đát ra. 275.- Na mô tụy đô đế. 276.- A tất đa na ra lạt ca. 277.- Ba ra bà tất phổ tra. 278.- Tỳ ca tát đát đa bát đế rị. 279.- Thập Phật ra thập Phật ra. 280.- Đà ra đà ra. 281.- Tần đà ra tần đà ra sân đà sân đà. 282.- Hổ huân. 283.- Hổ huân. 284.- Phấn tra. 285.- Phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra. 286.- Sa ha. 287.- Hê hê phấn. 288.- A mưu ca gia phấn. 289.- A ba ra đề ha đa phấn. 290.- Bà ra ba ra đà phấn. 291.- A tố ra tỳ đà ra ba ca phấn. 292.- Tát bà đề bệ tệ phấn. 293.- Tát bà na già tệ phấn. 294.- Tát bà dược xoa tệ phấn. 295.- Tát bà càn thát bà tệ phấn. 296.- Tát bà bổ đan na tệ phấn. 297.- Ca tra bổ đan na tệ phấn. 298.- Tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn. 299.- Tát bà đột sáp tỷ rê hất sắt đế tệ phấn. 300.- Tát bà thập bà rị tệ phấn. 301.- Tát bà a bá tất ma rê tệ phấn. 302.- Tát bà xá ra bà noa tệ phấn. 303.- Tát bà địa đế kê tệ phấn. 304.- Tát bà đát ma đà kế tệ phấn. 305.- Tát bà tỳ đà gia ra thệ giá rê tệ phấn. 306.- Xà dạ yết ra ma độ yết ra. 307.- Tát bà ra tha sa đà kê tệ phấn. 308.- Tỳ địa dạ giá rê tệ phấn. 309.- Giả đô ra phộc kỳ nễ tệ phấn. 310.- Bạt xà ra câu ma rị. 311.- Tỳ đà dạ ra thệ tệ phấn. 312.- Ma ha ba ra đinh dương xoa kỳ rị tệ phấn. 313.- Bạt xà ra thương yết ra dạ. 314.- Ba ra trượng kỳ ra xà gia phấn. 315.- Ma ha ca ra dạ. 316.- Ma ha mạt đát rị ca noa. 317.- Na mô sa yết rị đa dạ phấn. 318.- Bí sắt noa tì duệ phấn. 319.- Bột ra ha mưu ni duệ phấn. 320.- A kỳ ni duệ phấn. 321.- Ma ha yết rị duệ phấn. 322.- Yết ra đàn trì duệ phấn. 323.- Miệt đát rị duệ phấn. 324.- Rạo đát rị duệ phấn. 325.- Giá văn trà duệ phấn. 326.- Yết lã ra đát rị duệ phấn. 327.- Ca bát rị duệ phấn. 328.- A địa mục chất đa ca thi ma xá na. 329.- Bà tư nễ duệ phấn. 330.- Diễn cát chất. 331.- Tát đỏa bà tả. 332.- Mạ mạ ấn thỏ na mạ mạ tả. 333.- Đột sắt tra chất đa. 334.- A mạt đát rị chất đa. 335.- Ô xà ha ra. 336.- Già bà ha ra. 337.- Rô địa ra ha ra. 338.- Bà sa ha ra. 339.- Ma xà ha ra. 340.- Xà đa ha ra. 341.- Thị bí đa ha ra. 342.- Bạt lược dạ ha ra. 343.- Càn đà ha ra. 344.- Bố sử ba ha ra. 345.- Phả ra ha ra. 346.- Bà tả ha ra. 347.- Bát ba chất đa. 348.- Đột sắt tra chất đa. 349.- Lạo đà ra chất đa. 350.- Dược xoa yết ra ha. 351.- Ra sát sa yết ra ha. 352.- Bế lệ đa yết ra ha. 353.- Tỳ xá giá yết ra ha. 354.- Bộ đa yết ra ha. 355.- Cưu bàn trà yết ra ha. 356.- Tất càn đà yết ra ha. 357.- Ô đát ma đà yết ra ha. 358.- Sa dạ yết ra ha. 359.- A bá tát ma ra yết ra ha. 360.- Trạch khư cách trà kỳ ni yết ra ha. 361.- Rị Phật đế yết ra ha. 362.- Xà di ca yết ra ha. 363.- Xá câu ni yết ra ha. 364.- Mỗ đà ra nan địa ca yết ra ha. 365.- A lam bà yết ra ha. 366.- Càn độ ba ni yết ra ha. 367.- Thập phạt ra yên ca hê ca. 368.- Trụy đế dược ca. 369.- Đát lệ đế dược ca. 370.- Giả đột thác ca. 371.- Nặc đề thập phạt ra bí sam ma thập phạt ra. 372.- Bạc để ca. 373.- Tị để ca. 374.- Thất lệ sắt mật ca. 375.- Sa nễ bát đế ca. 376.- Tát bà thập phạt ra. 377.- Thất rô cát đế. 378.- Mạt bà bệ đạt rô chế kiếm. 379.- A ỷ rô kiềm. 380.- Mục khư rô kiềm. 381.- Yết rị đột rô kiềm. 382.- Yết ra ha yết lam. 383.- Yết noa thâu lam. 384.- Đạn đa thâu lam. 385.- Hất rị dạ thâu lam. 386.- Mạt mạ thâu lam. 387.- Bạt rị thất bà thâu lam. 388.- Bí lật sắt tra thâu lam. 389.- Ô đà ra thâu lam. 390.- Yết tri thâu lam. 391.- Bạt tất đế thâu lam. 392.- Ô rô thâu lam. 393.- Thường già thâu lam. 394.- Hát tất đa thâu lam. 395.- Bạt đà thâu lam. 396.- Sa phòng áng già bát ra trượng già thâu lam. 397.- Bộ đa bí đá trà. 398.- Chà kỳ ni thập bà ra. 399.- Đà đột rô ca kiến đốt rô cát tri bà lộ đa tỳ. 400.- Tát bát rô ha lăng già. 401.- Thâu sa đát ra sa na yết ra. 402.- Tỳ sa dụ ca. 403.- A kỳ ni ô đà ca. 404.- Mạt ra bê ra kiến đá ra. 405.- A ca ra mật rị đốt đát liễm bộ ca. 406.- Địa lật lạt tra. 407.- Bí rị sắt chất ca. 408.- Tát bà na câu ra. 409.- Tứ dẫn già tệ yết ra rị dược xoa đát ra sô. 410.- Mạt ra thị phệ đế sam sa bệ sam. 411.- Tất đát đa bát đát ra. 412.- Ma ha bạt xà rô sắt ni sam. 413.- Ma ha bát lạt trượng kỳ lam. 414.- Dạ ba đột đà xá dụ xà na. 415.- Biện đát lệ noa. 416.- Tỳ đà gia bàn đàm ca rô di. 417.- Đế thù bàn đàm ca rô di. 418.- Bát ra tỳ đà bàn đàm ca rô di. 419.- Đá điệt tha. 420.- Úm. 421.- A na lệ. 422.- Tỳ xá đề. 423.- Bệ ra bạt xà ra đà rị. 424.- Bàn đà bàn đà nễ. 425.- Bà xà ra báng ni phấn. 426.- Hổ huân đô rô úng phấn. 427.- Sa bà ha.

(thần chú — theo truyền thống không dịch nghĩa)

Hết Quyển Bảy

Tìm kinh, kệ, chú, truyện, pháp âm…